Cảm nhận tư duy & Tổng hợp kiến thức
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ký tích. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ký tích. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2017

Bí ẩn quanh kim tự tháp lâu đời nhất ở Ai Cập

Được xây dựng tại Saqqara khoảng 4.700 năm trước, kim tự tháp bậc thang Djoser là kim tự tháp đầu tiên của người Ai Cập.
Djoser đôi khi được đánh vần là Zoser, (mặc dù thực tế ông được gọi là Netjerykhet) là vị vua triều đại thứ ba của Ai Cập.
Người lập kế hoạch xây dựng kim tự tháp là Imhotep, tể tướng của triều đại sau đó đã được tôn sùng như một vị thánh nhờ các đóng góp của mình.
Kim tự tháp có nguồn gốc ban đầu là một lăng mộ Mastaba - một kiến trúc mặt bằng hình bình hành, trải qua hàng loạt công việc xây dựng đã hình thành một kim tự tháp cao 60 mét với sáu tầng được xây chồng lên nhau.
Việc xây dựng kim tự tháp cần 11,6 triệu mét khối đá và đất sét. Các hầm bên dưới kim tự tháp tạo nên một đường dẫn dài khoảng 5,5km.
Kim tự tháp bậc thang Djoser là kim tự tháp lâu đời nhất Ai Cập.

Khu liên hợp

Kim tự tháp nằm ở trung tâm khu liên hợp rộng khoảng 15 hecta, được bao quanh bởi một tường đá vôi gồm 13 cánh cửa giả cũng như lối đi thực sự ở phía đông nam.
Một ngôi đền nằm ở phía bắc của kim tự tháp dọc với tượng đài của vị vua. Tượng đài được bao quanh bởi kiến trúc đá nhỏ được biết đến như là “serdad”. Phía nam của kim tự tháp là một cung điện được rào chắn xung quanh bởi một bệ thờ và các tảng đá.
Rất nhiều các tòa nhà mặt tiền được xây dựng trong khu liên hợp, bao gồm một loạt nhà thờ nhỏ ở phía đông nam cũng như các sảnh đường bắc và nam ở phía đông kim tự tháp. Các cấu trúc phục vụ cho mục đích tôn giáo.
Ở phía đông nam của khu liên hợp, cạnh các nhà thờ nhỏ là một cung điện có lẽ được xây dựng dành cho vua tổ chức các lễ hội Hed - Seb ở thế giới bên kia.
Ở phía nam cuối của khu liên hợp là một lăng mộ huyền bí với một nhà thờ nhỏ. Nó gồm hàng loạt các đường hầm bắt chước kiểu dáng các đường hầm được tìm thấy phía dưới kim tự tháp. Điều gì được chôn giấu ở đó là một điều bí mật.
Một nhà thờ nhỏ trong cung điện Hep-Sed ở kim tự tháp bậc thang Djoser.

Lăng mộ của Vua

Bên dưới kim tự tháp bậc thang là một dãy hỗn tạp các đường hầm và căn phòng, trung tâm là một hầm sâu 28 mét ở dưới đáy là lăng mộ của vua Djoser.
Các công việc bảo tồn gần đây ở lăng mộ phát hiện các mảnh quan tài bằng đá granit của vị vua và tên của các nữ hoàng vẫn còn có thể đọc được.
Nhà Ai Cập học Zahi Hawass, nguyên giám đốc hội đồng di sản tối cao Ai Cập trong một đoạn video vào năm 2009 nói về công việc bảo tồn ở kim tự tháp: “Kim tự tháp bậc thang là kim tự tháp duy nhất trong triều đại cổ mà có mười một trong số các con gái của vua được chôn bên trong".
Hầm mộ ban đầu có thể được trang trí bởi khối đá vôi chứa các ngôi sao năm cánh tạo thành một trần đầy sao. Tuy nhiên, không biết vì lý do gì, việc trang trí này bị những người xây dựng dỡ bỏ thay vào đó là một phòng chôn bằng đá granit đơn giản hơn.

Đường hầm và cung điện dưới mặt đất

Hai lối đi dẫn tới hầm ngầm và chia ngả thành ba hướng. Ở đó chứa ba phòng trưng bày, một hầm nhỏ đặc biệt chứa đồ ăn, và một phòng chưa hoàn thiện có thể đã được xây dựng làm cung điện dưới mặt đất của thế giới bên kia.
Ba cánh cửa giả chứa các họa tiết cho thấy sự sùng bái tôn giáo của vua. Buồng được trang trí với hàng nghìn gạch vuông bằng sứ xanh bắt chước hình vẽ chiếu đan bằng sậy trong cung điện của nhà vua ở Memphis. Căn phòng ở bên dưới kim tự tháp này được hoàn thành một cách nhanh chóng.
Một hầm khác, bắt đầu ở phía bắc của kim tự tháp, chứa 40.000 bát đá, nhiều trong số đó thuộc về tổ tiên của vua. Các quan tài và các phần của hài cốt cũng được tìm thấy.

Sự bảo tồn ngày nay

Kim tự tháp bậc thang là một công trình không bền chắc với những dự đoán cho thấy rằng nếu không có công việc bảo tồn thì các hầm bên dưới kim tự tháp có thể sập và tượng đài có thể mất đi một phần đáng kể trong một vài thập kỉ nữa.
Người Ai Cập đã bắt đầu nỗ lực bảo tồn di sản nhiều năm trước và gần đây Cintec, một công ty xây dựng Anh đã được huy động để hỗ trợ nỗ lực bảo tồn. Họ sử dụng các túi khí lớn để nâng đỡ mái kim tự tháp trong khi thực hiện các công việc sửa chữa cấu trúc kim tự tháp.

Sự vinh danh

Với việc xây dựng kim tự tháp bậc thang, Imhotep cuối cùng được sùng bái như một vị thánh. Nhà Ai Cập học Marc Van De Mieroon viết trong cuốn sách “Lịch sử của Ai Cập cổ đại” của mình rằng vua Djoser dành cho Imhotep một đặc ân, cho phép tên và danh hiệu của ông được khắc vào nền tượng đài vua.
Tham khảo: Livescience
Cập nhật: 30/03/2017Theo Giáo Dục, Livescience
Share:

Thứ Hai, 27 tháng 3, 2017

14 cổ vật “cao tuổi” nhất thế giới

Có những đồ vật chúng ta đang sử dụng thời nay đã được phát minh từ hàng nghìn năm trước, và những thông tin dưới đây chắc chắn sẽ khiến bạn vô cùng bất ngờ.


Huy chương này là một trong những đồ vật cổ xưa nhất của con người trên thế giới. (Ảnh: kirkinews)
1. Huy chương cổ nhất thế giới – niên đại 2700 năm
Huy chương lâu đời nhất được tìm thấy ở các thành phố Hy Lạp cổ đại, một mặt của huy chương có in hình dạng giống như đầu của một con sử tử.
2. Viên đá điêu khắc lâu đời nhất thế giới – niên đại 3,3 triệu năm
Viên đá điêu khắc lâu đời nhất thế giới – niên đại 3,3 triệu năm. (Ảnh: kirkinews)
Ở kenya, nhóm khảo cổ đã khai quật được nhiều di tích từ thời tiền sử, trong đó có viên đá được điêu khắc trên.
3. Bài hát lâu đời nhất thế giới – niên đại 3400 năm

Các dòng chữ ghi trên phiến đá này được phát hiện ở trị trấn Uman – Ukraina. Nó có niên đại 1400 năm trước công nguyên và là một bài thánh ca về thần Nikal. (Ảnh: kirkinews)
4. Ngón chân giả lâu đời nhất thế giới – niên đại 3000 năm

Ngón chân giả được làm từ gỗ và da đã được tìm thấy trong xác ướp tại Ai Cập. (Ảnh: kirkinews)
Ngón chân giả được làm từ gỗ và da đã được tìm thấy trong xác ướp tại Ai Cập. Trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã xác nhận đó là một phụ nữ sống trong những năm 950 trước công nguyên.
5. Váy dệt lâu đời nhất – niên đại 5900 năm

Váy dệt truyền thống này được tìm thấy tại một hang động ở mrmenia. (Ảnh: kirkinews)
Váy dệt truyền thống này được tìm thấy tại một hang động ở mrmenia. Với niên đại 5900 năm, chứng tỏ hang động này đã được người cổ đại dùng làm nơi sinh sống trong nhiều thế kỷ.
6. Chiếc ví cổ nhất – niên đại 4500 năm

Chiếc ví cổ được làm từ 100 chiếc răng chó với niên đại khoảng 2500 năm trước công nguyên. (Ảnh: kirkinews)
Trong khu vực khảo cổ tại thành phố Leipzig ở Đức, các nhà khảo cổ đã tìm thấy chiếc ví cổ được làm từ 100 chiếc răng chó với niên đại khoảng 2500 năm trước công nguyên. Việc phát hiện này đã chứng minh thời trang của thời đại đó rất phát triển.
7. Chiếc tất lâu đời nhất thế giới – niên đại 1500 năm

Một chiếc tất len đã được phát hiện trong thể kỷ 19 ở Ai Cập. (Ảnh: kirkinews)
Một chiếc tất len đã được phát hiện trong thể kỷ 19 ở Ai Cập. Nó được thiết kế để sử dụng cùng đôi dép để làm đẹp, niên đại vào khoảng những năm 300 – 400 năm sau công nguyên.
8. Công thức lâu đời nhất thế giới – Niên đại 5000 năm

Chiếc bia có khắc công thức từ thời đại Sumer. (Ảnh: kirkinews)
Chiếc bia có khắc công thức từ thời đại Sumer ở những năm 3000 trước công nguyên. Đến nay nó vẫn rất bền.
9. Chiếc quần lâu đời nhất thế giới – Niên đại 3300 năm

Chiếc quần được dệt bằng len và có niên đại 3300 năm tuổi, (Ảnh: kirkinews)
Trông giống như một chiếc quần cũ khi mới được tìm thấy, nhưng nó được dệt bằng len và có niên đại 3300 năm tuổi, được tìm thấy ở miền tây Trung Quốc.
10. Nhạc cụ lâu đời nhất – 43000 năm

Nó được tìm thấy trong một hang động ở Đức. (Ảnh: kirkinews)
Trong năm 2012, các nhà nghiên cứu dã phát hiện ra nhạc cụ này có niên đại khoảng 43.000 năm tuổi, có thể làm bằng ngà voi, xương của các loại chim khổng lồ. Nó được tìm thấy trong một hang động ở Đức.
11. Kẹo cao su lâu đời nhất thế giới – 5000 năm

Bã kẹo được xác định niên đại 5000 năm với những dấu răng trên đó. (Ảnh: kirkinews)
Một miếng bã kẹo cao su làm từ vỏ cây bạch dương đã được tìm thấy bởi các sinh viên khảo cổ đến từ Phần Lan. Bã kẹo được xác định niên đại 5000 năm với những dấu răng trên đó.
12. Phòng tắm lâu đời nhất thế giới – Niên đại 2000 năm

Phòng tắm 2000 năm tuổi này được tìm thấy ở thành phố cổ Ephesus ở Thổ Nhĩ Kỳ. (Ảnh: kirkinews)
Phòng tắm 2000 năm tuổi này được tìm thấy ở thành phố cổ Ephesus ở Thổ Nhĩ Kỳ. Đây là phong cách tắm từ thời cổ đại rất rõ rằng, nước được chảy xuống sông ở các khu vực lân cận.
13. Giày lâu đời nhất thế giới – niên đại 5500 năm

Một chiếc giày cổ với niên đại 5500 tuổi. (Ảnh: kirkinews)
Một chiếc giày cổ với niên đại 5500 tuổi đã được tìm thấy trong một hang động ở Armenia. Nó được làm bằng da và dệt rất công phu.
14. Bản đồ thế giới lâu đời nhất – niên đại 510 năm

Các kí hiệu về thế giới được khắc tỉ mỉ lên vỏ của trứng đà điểu. (Ảnh: kirkinews)
Các kí hiệu về thế giới được khắc tỉ mỉ lên vỏ của trứng đà điểu. Một bản đồ thế giới thời đó đã hiên lên trên quả trứng và các nhà khoa học tin rằng nó được làm tại Flerence, Ý.
Theo kyluc
Nguồn http://tinhhoa.net
Share:

Chủ Nhật, 5 tháng 3, 2017

Hệ điều hành MS-DOS chính thức nghỉ hưu

Tình cờ trên mạng, mình phát hiện ra bài viết nầy đăng trên báo Thanh niên với một tiêu đề hấp dẫn:" Hệ điều hành MS-DOS chính thức nghĩ hưu". Chuyện phải nghĩ hưu đó là chuyện tất yếu của dòng lịch sử đúng với tên gọi ta thường nghe: "tre già măng mọc". Hệ điều hành phát triển nối tiếp nhau, trên nền tảng của nhau và để thích nghi với tất cả các thiết bị mà nhu cầu người dùng ham muốn, ưa chuộng.
Tuy nhiên, đã là lịch sử thì không thể nào quên được, hơn nữa MS-DOS lại là nền tảng cơ bản để phát triển tin học trong những thập niên cuối cùng của thế kỹ 20. 

009:46 AM - 09/12/2016 Thanh Niên Online

Trước khi xuất hiện Office hay Windows, Microsoft đã từng có một hệ điều hành huyền thoại mang tên MS-DOS. Nó đã giúp biến Microsft thành một đế chế trong lĩnh vực phần mềm.
Theo Business Insider, MS-DOS là một hệ điều hành dòng lệnh, đồng nghĩa người dùng phải học thuộc rất nhiều cú pháp và lệnh để gõ chúng vào máy tính giúp thực hiện những tác vụ.
Trong 36 năm qua, mỗi phiên bản Windows đều cho phép người dùng truy cập vào dấu nhắc lệnh MS-DOS theo những cách khác nhauđể tìm kiếm, thao tác với các tập tin.
Hiện tại, Microsoft lặng lẽ xóa sổ MS-DOS trong phiên bản Windows 10 mới nhất phát hành dành cho cộng đồng các nhà phát triển (Windows Insiders). Thay vào đó, Microsoft thay thế MS-DOS bằng PowerShell. Đây là một công nghệ của Microsoft vừa chính thức kỉ niệm 10 năm ra đời chuyên dùng để viết các đoạn script, được người dùng và các lập trình viên ưa chuộng hơn hẳn so với MS-DOS.
Câu chuyện bí ẩn đằng sau
Lịch sử ra đời của MS-DOS là một giai thoại, đã tạo nên tên tuổi cho Bill Gates cũng như người đồng sáng lập Microsoft, Paul Allen.
Vào thời điểm lúc bấy giờ, IBM muốn xây dựng một hệ điều hành dành cho máy tính nhỏ. Vì vậy, hãng đã tìm đến một chuyên gia ở lĩnh vực này. Tuy nhiên, người này đồng thời cũng là một phi công và thường xuyên không có nhà do phải bay liên tục, dẫn đến cuộc gặp gỡ giữa ông và IBM đã không diễn ra.
Và cũng giúp Bill Gates trở nên giàu có bậc nhấtẢNH: AFP
Kết quả là, IBM quyết định không viết tất cả phần mềm cho các thiết bị mới và nhờ đến công ty nhỏ Microsoft hợp tác trên ngôn ngữ BASIC. Microsoft sau đó đã trở nên rất nổi tiếng với ngôn ngữ này.
Khi trao đổi cùng IBM, Bill Gates biết vấn đề IBM gặp phải với hệ điều hành, do đó ông đã đi ra ngoài thuê người viết nên hệ điều hành MS-DOS huyền thoại, đủ sức cạnh tranh với hệ điều hành của viên phi công. Bill Gates đã trả 75.000 USD để viết ra MS-DOS nhưng chỉ bán cho IBM với mức giá 50.000 USD nhưng bù lại, Microsoft có thể bán bản quyền cho các nhà sản xuất máy tính khác.
Từ đó, đế chế Microsoft đã ra đời và phát triển hùng mạnh đến tận hôm nay, ngành công nghiệp máy tính cũng phát triển rực rỡ. Trong khi đó, Bill Gates trở thành người giàu có nhất trên thế giới.
Với sự ra đi của MS-DOS, các lập trình viên cảm thấy tiếc nuối khi không còn thấy những giao diện tuy đơn giản nhưng đầy kỷ niệm này.

Hiếu Trung
Share:

Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2016

Bé gái 9 tuổi nhìn bằng con mắt thứ 3, bí ẩn khoa học chưa có lời giải

03/12/2016 08:08:45

Yogamaatha, một bé gái 9 tuổi đến từ Ấn Độ gần đây đã khiến mọi người kinh ngạc khi bịt 3 tấm khăn lên mắt nhưng vẫn có thể đọc được những gì viết trong tờ giấy đặt trước mặt. Làm thế nào mà cô bé này có được khả năng đó?
Cô bé cho biết, một bậc thầy tại lớp học em tham dự ở Gurukul – Trường học do các đạo sư ở Ấn Độ mở ra đã dạy em cách sử dụng khả năng đặc biệt để nhìn bằng con mắt thứ ba.
Một số người nghĩ rằng đây là món quà mà cô bé được ban tặng và chỉ ít người trên thế giới mới có, nhưng Yogamaatha nói rằng đó là một loại khả năng có thể học được.


Con mắt thứ 3 là gì? 

Từ xa xưa, người phương Đông cổ đại thường cho rằng, năng lượng được phát ra từ một bộ phận trung tâm của con người và vùng trung tâm đó chính là "con mắt thứ ba". Hình ảnh con mắt thứ ba được thể hiện trên trán của các vị thần trong các tác phẩm điêu khắc cổ đại ởđền chùa Phật giáo.
Người ta tin rằng, con mắt nhìn thấu mọi điều đã được Thượng đế ban tặng cho các vị thần để họ có những năng lực siêu phàm nhìn thấu những vật vô hình.
Theo đạo Cao Đài, người tu hành khi đoạt được Pháp sẽ có thêm con mắt thứ ba và con mắt này được gọi là Huệ nhãn, sẽ thấy được cõi vô hình. Trong Yoga, việc luyện tập Marantha để có được một vài năng lực tâm linh thần bí như khai sáng được "con mắt thứ ba" mà người khác không có.



Bức tranh có từ thế kỷ 17 do nhà giả kim Robert Fludd vẽ, diễn tả 'con mắt thứ ba' liên hệ với các "thế giới cao hơn' 

Người Ấn Độ thường chấm một điểm trên trán giữa hai con mắt để diễn tả con mắt thứ ba, chính là thần nhãn, để thấy được những gì mà hai con mắt trần vẫn nhìn mà không thể thấy được.
Nhiều giả thuyết khác lại cho rằng, do từ thời xa xưa, Adam và Eva đã phạm luật thiên đàng nên hạch tuyến Pituitary và Pineal nằm ở khoảng giữa hai con mắt đã dần bị hạn chế khả năng nhìn nhận ánh sáng.
Yogamaatha học cách đọc chữ kể cả khi bị bịt mắt như thế nào?
Yogamaatha từng được đưa đến Capital Hill, Mỹ để kiểm tra khả năng đọc chữ trong khi bị bịt mắt, và tất nhiên cô bé đã vượt qua kỳ kiểm tra.
Sau khi đến miền Nam California, tại một ngôi đền thờ Vệ Đà, Yogamaatha đã cho tất cả mọi người chứng kiến việc em không những có thể đọc chữ mà thậm chí còn có thể chơi trò chơi trong khi bị bịt mắt.

Cô bé Yogamaatha 9 tuổi 

Có những đứa trẻ khác như Yogamaatha trên khắp thế giới cũng đang tập thực hành khả năng này. Nó được rèn luyện thông qua thiền định và luyện cách sử dụng tuyến tùng như một con mắt thứ ba.
Tuyến tùng là một tuyến nội tiết nhỏ nằm gần trung tâm của não. Người ta nói rằng bất cứ ai cũng có thể kích hoạt tuyến tùng của họ thông qua thiền định, từ đó có thể nhìn như một con mắt thứ ba, và có cảm giác biết tất cả mọi thứ.

Yogamaatha đọc chữ trong khi bị bịt mắt. (Ảnh: Internet) 

Tất cả chúng ta đều có khả năng tiềm ẩn này và đều có thể học cách sử dụng nó. Yogamaatha đã cho mọi người thấy khả năng đặc biệt của mình, và giờ đây tất cả mọi người đang tự hỏi, liệu họ có thể làm được như cố ấy.
Nhiều người có thể không tin vào con mắt thứ ba, nhưng sau khi xem những gì cô bé này làm, chắc hẳn họ sẽ thấy điều đó hoàn toàn là có thể.

Share:

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2016

Giới thiệu về kênh đào Panama Lịch sử kênh đào

Giới thiệu về kênh đào Panama

Xem tài liệu


Năm 1502 Cristobal Colon đến Panama. Tám năm sau, vào năm 1510, thực dân Tây Ban Nha bắt đầu đô hộ Panama. Vào lúc đó, việc làm một con đường qua Panama là rất có lợi cho việc vận chuyển hàng hoá từ các thuộc địa Nam Mỹ về mẫu quốc. Chính vì vậy, vào năm 1534 Vua Carlos V đã ra lệnh thực hiện những nghiên cứu đầu tiên về địa hình để xây dựng một kênh đào dài 80 km tại Panama. Tuy nhiên, việc xây dựng công trình này đã vượt quá khả năng của thời kỳ đó.
Hơn 3 thế kỷ sau, bá tước người Pháp Ferdinand de Lesseps, người xây kênh đào Suez từ năm 1859 đến 1869, đã lập Công ty Quốc tế Kênh đào liên đại dương Panama với mục tiêu xây dựng kênh đào tại Panama. Năm 1880, bá tước Lesseps khởi công công trình, bán ngân phiếu và cổ phần để huy động vốn. Tuy nhiên, việc xây dựng kênh đào gặp nhiều trở ngại về địa hình, khí hậu cũng như những thiếu sót trong quản lý dẫn đến phá sản về tài chính vào năm 1889.
Năm 1894, Tân Công ty Kênh đào Panama của Pháp được thành lập để tiếp tục các nỗ lực của Lesseps. Một ủy ban kỹ thuật đã nghiên cứu các đặc điểm địa hình, địa chất, thuỷ văn của Panama và đề xuất xây dựng kênh đào theo các cửa để có thể kiểm soát được mực nước dâng của hồ Chagres và giảm số lượng các hố đào trong công đoạn xây dựng. Lần cố gắng thứ hai này cũng không thành công. Thiếu sự giúp đỡ về tài chính của chính phủ và tư nhân, hết vốn, các đại diện của Tân Công ty của kênh đào Panama buộc phải bán lại cho chính phủ Mỹ quyền sở hữu và xây dựng kênh đào vào năm 1904 với giá 40 triệu đô la.
Năm 1903, Panama sau khi giành độc lập từ Colombia đã ký hiệp định Hay-Bunau Varilla, qua đó, Panama đồng ý để cho Mỹ thực hiện việc xây dựng một kênh đào liên đại dương đi qua Panama. Người Mỹ tiếp tục công trình vào năm 1904 với lực lượng lao động hơn 75 nghìn người và đầu tư tài chính 400 triệu đô la. Cũng như với người Pháp, công trình tiếp tục gặp phải nhiều khó khăn: công nhân mắc bệnh nhiệt đới, công trình bị sụt lở liên tục, nhiều hố đào phức tạp, các cửa kênh đào kích cỡ lớn, nhập nguyên liệu, tổ chức và đào tạo nhân công khó khăn... Tuy nhiên, các trở ngại dần được tháo gỡ. Thượng tá William Crawford Gorgas và nhóm bác sĩ của ông đã triệt tận gốc bệnh sốt vàng da và khống chế được bệnh sốt rét. Kỹ sư trưởng John F. Stevens và cộng sự đã thành lập được hệ thống cung ứng và tổ chức được một hệ thống đường sắt để vận chuyển nguyên liệu đá được đào lên từ các hố đào. Thượng tá George Washington Goethals chỉ huy đào đoạn cắt Culebra, thiết kế những bản vẽ cuối cùng và xây dựng các cửa kênh của đập nước Gatun hiện nay.
Kênh đào Panama khánh thành ngày 15 tháng 8 năm 1914, nằm dưới sự quản lý và vận hành của chính phủ Mỹ. Một chương trình bảo dưỡng nâng cấp cơ sở hạ tầng nghiêm ngặt được lập ra để giữ cho kênh đào trong điều kiện hoạt động tốt nhất.
Năm 1977, Panama và Mỹ ký hiệp định Torrijos-Carter, quy định lộ trình huỷ bỏ Khu vực kênh đào đặc quyền của Mỹ, tăng nhân lực Panama vào việc quản lý kênh đào và chuyển nhượng dần kênh đào cho Panama. Thực hiện hiệp định Torrijos-Carter, Panama đã tiếp quản hoàn toàn kênh đào vào 12 giờ trưa ngày 31 tháng 12 năm 1999.
Theo Điều luật 19 ngày 11 tháng 7 năm 1997, Ban quản lý Kênh đào Panama (ACP) là cơ quan trực thuộc chính phủ Panama, chỉ đạo bởi một Giám đốc và một Phó Giám đốc dưới sự kiểm soát của Hội đồng quản trị gồm 11 người. ACP chịu trách nhiệm quản lý, vận hành, bảo dưỡng, nâng cấp và hiện đại hoá kênh đào, cũng như các hoạt động và dịch vụ kết nối với mục đích bảo đảm hoạt động an toàn, liên tục, có hiệu quả và đem lại lãi suất.





Kênh đào Panama dài 80km nối liền Đại tây dương và Thái bình dương, đi xuyên qua một trong những địa điểm hẹp nhất của dải đất Trung Mỹ, nơi thấp nhất của dãy núi chính nối liền Bắc và Nam Mỹ. Một con tàu trung bình sẽ mất khoảng 8 đến 10 giờ để đi qua kênh. Trong thời gian đó, hành khách có cơ hội để quan sát quy trình hoạt động của một trong những kỳ quan của kiến trúc hiện đại.
Kênh đào được cấu thành bởi các bộ phận chính: Hồ Gatun, đoạn cắt Culebra và ba bộ âu tàu: Miraflores và Pedro Miguel ở phía Thái Bình dương, Gatun ở phía Đại Tây dương.
Hồ Gatun là hồ nhân tạo trải rộng 423km vuông, là nơi tàu thuyền đi qua 37.8km từ cửa kênh Gatun đến mỏm phía Bắc của đoạn cắt Culebra.  Hồ được tạo ra bằng việc xây dựng âu tàu Gatun trên dòng chảy của sông Chagres. Để tăng khả năng tích trữ của hồ Gatun và khả năng hoạt động của kênh đào, tháng 3 năm 2002, Ban quản lý kênh đào Panama bắt đầu tiến hành đào sâu thêm đường đi của tàu thuyền và nâng khả năng cung cấp nước của kênh đến hơn 300 triệu galông mỗi ngày.
Đoạn cắt Culebra dài 13.7km, là một công trình được đào phần lớn trên nền đá rắn và chất liệu cứng. Ban đầu, nhánh sông được đào với 92m chiều rộng, đến tháng 11 năm 2001 được mở rộng ra 192m ở đoạn thẳng và 222m ở đoạn cong, đủ để lưu thông 2 tàu cỡ rộng, loại Panamax.
Kênh đào sử dụng một hệ thống âu tàu và cửa nước, phân chia theo đường vào và đường ra. Các âu tàu và cửa nước hoạt động như những thang máy: tàu thuyền được nâng lên từ mực nước biển (phía Thái Bình dương hoặc Đại Tây dương) cho đến khi bằng mực nước hồ Gatun (cao 26m so với mực nước biển). Bằng cách này tàu có thể tiếp tục đi qua hồ Gatun và được hạ xuống tới mực nước biển ở hệ thống âu tàu phía đầu bên kia của kênh đào và đi ra biển. Các ngăn âu tàu rộng 33.53m và dài 304.8m. Hiện nay, kích thước lớn nhất của các tàu có thể qua kênh đào là: chiều rộng 32.3m, mớn nước 12m nước ngọt, chiều dài 294.1m.
Kể từ khi đưa vào hoạt động ngày 14/8/1914, Kênh đào Panama đã đóng vai trò quan trọng trong hàng hải quốc tế. Việc sử dụng tuyến đường biển đi qua Kênh đào đã tiết kiệm rất nhiều thời gian và chi phí vận chuyển hàng hoá từ Châu Âu tới các bang miền Tây nước Mỹ và từ Đông Á tới các bang miền Đông nước Mỹ, do tránh được việc phải đi vòng qua đi cực nam Châu Mỹ. Kênh đào Panama còn được nhiều nước trong khu vực sử dụng để kết nối chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu với các thị trường Mỹ, Châu Âu và Châu Á.
Ngày nay, hàng năm có trên 14.000 tàu thuyền của 84 nước đi qua Kênh đào, với khối lượng hàng hoá đi qua chiếm 5% trao đổi thương mại của thế giới. Các nước sử dụng Kênh đào nhiều nhất là: Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Chile, Hàn quốc, Peru, Canada, Ecuador, Colombia và Mexico.
Kênh đào là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thiên về dịch vụ của Panama. Các dịch vụ của Kênh đào tạo việc làm cho 9.000 lao động, trong năm tài chính 2006 (từ 10/2005-9/2006), đạt doanh thu gần 1,5 tỷ USD, sau khi trừ chi phí và các khoản đầu tư khác, nộp 570 triệu USD vào ngân sách quốc gia của Panama.
Ngày 22/10/2006, Chính phủ Panama đã đưa Dự án mở rộng và hiện đại hoá Kênh đào Panama ra trưng cầu dân ý và dành được tỷ lệ ủng hộ 76,83%. Dự án này có số vốn đầu tư 5,25  tỷ đôla, thực hiện từ năm 2007 đến tháng 8/2014. Khi hoàn thành Kênh Đào sẽ cho phép tàu có kích thước rộng 49m, mớn nước 15m nước ngọt, chiều dài 366 m đi qua, dự kiến tăng gấp đôi năng lực vận chuyển của Kênh đào. Hiện nay, tàu lớn nhất đi qua Kênh đào có sức chứa 5,000 công-ten-nơ, nhưng sau khi được mở rộng các tàu chở dầu và chở hàng có sức chứa 12,000 công-ten-nơ có thể đi qua.
Vừa qua,  ngày 08/7/2009, công-xoóc-xom Sacyr của Tây ban nha trong Nhóm "Đoàn kết vì Kênh Đào-United for the Canal" gồm các Công ty Impregilo SpA của Italy, Jan de Nul NV của Bỉ, và Constructora Urbana của Panama vượt qua các công ty dự thầu của Mỹ, Nhật… đã trúng thầu Dự án mở rộng và hiện đại hoá Kênh đào./.
Share:

Người khơi thông kênh đào Suez

Thứ Bảy, 23/11/2013 - 11:21- Báo dân trí

Không phải là kỹ sư, cũng chẳng phải nhà tài chính, không ai có thể nghĩ ông lại thực hiện được công việc vĩ đại là khơi thông kênh đào Suez-tuyến đường biển ngắn nhất nối liền lục địa Á-Âu mà không phải qua châu Phi và được ví như động mạch của nền kinh tế thế giới.

Ông là Ferdinand de Lesseps.

Chân dung kiến trúc sư Ferdinand de Lesseps.
Ferdinand de Lesseps sinh ngày 19/11/1805 tại Versailles, trong một gia đình có truyền thống làm chính khách ngoại giao của nước Pháp. Nối nghiệp gia đình, đến tuổi trưởng thành, Ferdinand de Lesseps lại trở thành một nhà ngoại giao.
Việc trở thành một nhà ngoại giao đã giúp Lesseps có cơ hội được công tác ở nhiều nước trên thế giới như Bồ Đào Nha, Tunisia, Ai Cập, Algeria, Hà Lan, Tây Ban Nha và Italy... Và thời gian ông được cử giữ chức Lãnh sự Pháp tại Ai Cập đã có ảnh hưởng lớn đến công trình xây dựng kênh đào Suez của ông sau này.
Chính ông là người đã khơi lại ý tưởng chiến lược của Hoàng đế Pháp Napoleon Bonaparte về việc xây dựng một con kênh nhân tạo nối Địa Trung Hải với Biển Đỏ. Từ cuối thế kỉ XVIII, khi chinh phục Ai Cập, Napoleon Bonaparte đã cho tiến hành các nghiên cứu về việc xây dựng một con kênh nối liền Địa Trung Hải và Biển Đỏ, tuy nhiên dự án này sau đó đã bị gác lại vì Napoleon phải quay trở về Pháp.
Sau khi khơi lại ý tưởng xây dựng kênh đào Suez, Lesseps đã tiến hành một công trình nghiên cứu khảo sát vào năm 1846 và khẳng định mực nước giữa Địa Trung Hải và Biển Đỏ không chênh nhau, nên việc xây dựng một con kênh nhân tạo là một phương án khả thi.
Kênh đào Suez năm 1934.
Sau đó, bằng tài ngoại giao của mình, Lesseps đã thuyết phục được chính quyền Ai Cập cấp phép xây dựng vào năm 1856. Tháng 4/1859, Pháp chính thức tiến hành xây dựng kênh đào Suez. Trải qua 10 năm xây dựng gian nan, vất vả với sự tham gia của hơn 2,4 triệu công nhân Ai Cập, trong đó 125.000 người đã thiệt mạng, tháng 11/1869, kênh đào Suez chính thức được khánh thành và đi vào hoạt động.
Kênh đào Suez, nằm ở phía tây Ai Cập, có chiều dài 163 km, sâu 17 m, rộng 150 m, nối liền thành phố cảng Port Said trên bờ Địa Trung Hải và thành phố cảng Suez trên bờ Biển Đỏ. Khi đi vào hoạt động, kênh đào Suez có vai trò rất quan trọng. Nó đã góp phần rút ngắn tuyến đường biển cho những con tàu (dưới 150.000 tấn) đi từ Đại Tây Dương qua Địa Trung Hải đến Biển Đỏ rồi qua Ấn Độ Dương hay ngược lại. Cũng nhờ có kênh đào Suez, con đường biển từ London (Anh) tới Mumbai (Ấn Độ) đã rút ngắn được gần 12.000 km.
Kênh đào Suez hiện nay.
Kênh đào Suez nhanh chóng có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của nền giao thương thế giới. Cho đến nay, nó vẫn là huyết mạch sống còn của tuyến lưu thông hàng hóa từ Đông sang Tây, đặc biệt là vai trò quan trọng trong việc vận chuyển dầu mỏ từ Trung Đông đến các nền kinh tế phát triển. Mỗi năm có khoảng gần 19.000 tàu, chuyên chở khoảng 700 triệu tấn hàng hóa các loại đi qua kênh đào này. Hơn thế, kênh đào Suez còn có vai trò chiến lược về an ninh trong khu vực Trung Đông. Tiếp nối thành công của kênh đào Suez, Ferdinand de Lesseps tiếp tục lên kế hoạch cho việc xây dựng kênh đào Panama - con kênh giữ vai trò huyết mạch nối giữa Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Năm 1880, công ty của Lesseps khởi công công trình xây dựng con kênh đào giữa hai bờ đại dương ở Panama. Tuy nhiên những kinh nghiệm và sự tài giỏi của các kỹ sư Pháp được thử thách ở kênh đào Suez đã không giúp họ vượt qua được những điều kiện thời tiết khắc nghiệt tại Panama. Bệnh tật và sự yếu kém trong điều hành dự án đã khiến cho công ty của Lesseps phá sản vào năm 1889.
Những nỗ lực sau đó của người Pháp nhằm duy trì việc xây dựng kênh đào Panama đều thất bại do thiếu kinh phí, vì thế người Pháp đã phải bán dự án cùng trang thiết bị xây dựng cho người Mỹ.
Tuy không thành công với kênh đào Panama, nhưng những khảo sát của Lesseps vẫn được người Mỹ dùng làm cơ sở để hoàn tất công trình kênh đào Panama vào đầu thế kỷ XX. Kênh đào Panama được coi là một cuộc cách mạng trong giao thông đường biển của thế giới. Nhờ có “công trình thế kỷ” này, tàu chở hàng không phải đi qua Nam Mỹ và mũi Kap Hoon nguy hiểm, rút ngắn đường đi giữa hai đại dương.
Lesseps qua đời vào ngày 7/12/1894. 5 năm sau, để tỏ lòng tôn kính đối với một trong những thiên tài sáng tạo của thế kỷ XIX, một bức tượng hoành tráng của ông đã được xây dựng ngay ở lối vào của con kênh đào Suez. Tuy nhiên, đến cuối năm 1956, sau khi Ai Cập quốc hữu hóa kênh đào Suez, bức tượng đã được gỡ bỏ, tượng trưng cho sự kết thúc quyền sở hữu kênh đào này của người châu Âu. Bức tượng được chuyển đến cảng Fouad.
Đến nay không ai có thể phủ nhận rằng sự ra đời của kênh đào Suez đã có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển giao thương không chỉ của Ai Cập mà của toàn thế giới. Không những thế, nó còn là biểu tượng của những tiến bộ khoa học thế giới vào cuối thế kỷ XIX.
Theo TTTL
Báo Tin tức
Share:

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2016

Người khổng lồ duy nhất còn biết đến trong lịch sử

Một số ghi chép xưa có chi tiết người khổng lồ từng sống trên quả đất giữa chủng người ngày nay, không có nhiều bằng chứng về loại người này, nhưng gần đây người ta tìm thấy thông tin một người khổng lồ có thật sống đời nhà Thanh – Trung Quốc, và chỉ thọ khoảng 50 tuổi.


Chiêm Thế Thoa (1841 – 1893) người tỉnh Phúc Châu (hiện nay là Phúc Kiến) có chiều cao đến 2,4m, được sử nhà Thanh ghi chép là người khổng lồ. Các nước Tây Phương mà nhân vật này từng đặt chân đến cũng đặt cho ông biệt danh tương tự.


Họ Chiêm rời Trung Quốc năm 1865 đi đến London – Anh, kiếm tiền nhờ biểu diễn các khả năng khác thường trên sân khấu. Sau đó Chiêm có sang Châu Âu, đến tận Mỹ và cuối cùng đến định cư châu Úc. Vốn tính thông minh, ông có thể nói được đến 10 thứ tiếng khác nhau học từ những quốc gia từng đi qua. Lúc còn ở Mỹ, Chiêm có thể kiếm đến 500 USD/tháng nhờ các tài biểu diễn và hình dáng kỳ lạ của mình.


Kin Foo, người vợ gốc Hoa theo Chiêm đi chu du nước ngoài, qua đời năm 1871. Chiêm sau đó lập gia đình cùng một cô gái Úc tên Catherine Santley, họ có với nhau 2 người con. Một sinh ở Thượng Hải, người khác sinh ở Paris – Pháp.


Đến năm 1878, Chiêm giải nghệ và thôi không đi lưu diễn nữa, ông về định cư tại Bournemouth, mở một trà quán bán các đồ lưu niệm nhập từ Trung Quốc sang. Gần nữa năm sau khi Catherine Santley qua đời, Chiêm cũng mất theo. Chiều cao của ông lúc qua đời đo được đến 2,6m.




Bruce Phan – tổng hợp
Theo Tinhhoa

Read more: http://www.mystown.com/2015/09/nguoi-khong-lo-duy-nhat-con-biet-en.html#ixzz4L5zS5W7g
Share:

Thứ Tư, 31 tháng 8, 2016

Những cây cầu hiện đang giữ hàng Top trên thế giới

Danh mục gồm:(Bạn click vào để chọn xem)



1. Lái xe can đảm mới dám đi qua cây cầu dốc đứng

Ejima Ohashi (Eshim Ohashi) là cây cầu có độ dốc cực lớn, tạo cảm giác mạo hiểm mà chỉ những tài xế can đảm nhất mới có bản lĩnh lái xe vượt qua.
Cầu Ejima nằm ở thành phố Matsue, Nhật Bản và trở thành tâm điểm chú ý của các phương tiện truyền thông quốc tế sau một quảng cáo xe hơi của hãng Daihatsu.
Nhiều người cho rằng, việc xây dựng cây cầu này do một nhóm kỹ sư nghiệp dư, không tính toán trước những khó khăn gặp phải cho người đi đường. Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy điều ngược lại. Lý do cây cầu Ejima quá cao và dốc là bởi nó cần dành không gian cho những tàu lớn trên 500 tấn có thể đi bên dưới.
Có chiều dài 1.44km, với độ cao ở điểm cao nhất so với mặt nước là 44,7m, Ejima được xây dựng từ năm 2004. Đây là cây cầu khung cứng lớn nhất Nhật Bản và lớn thứ 3 trên thế giới.


Cầu Siduhe là cây cầu cao nhất thế giới, nằm ở độ cao 496 m so với mặt nước, khiến nhiều du khách không dám nhìn xuống dưới.Khai trương vào 15/11/2009, đây là cây cầu thứ 3 của Trung Quốc trong chưa đầy 10 năm nhận được danh hiệu "cầu cao nhất thế giới". Đây là biểu tượng cho sự phát triển của cơ sở hạ tầng đường cao tốc tại quốc gia nàyCầu Siduhe nằm cách vùng 3 hẻm núi nổi tiếng của sông Trường Giang khoảng 80 km về phía nam, thuộc tỉnh Hồ Bắc. Đây là một trong vô số công trình ấn tượng trong 483 km cuối cùng của tuyến đường cao tốc Tây Hurong dài 2.175 km, nối Thượng Hải với Trùng Khánh và Thành Đô.Cầu Siduhe cao tới mức đối thủ gần nhất ở Mexico thấp hơn tới 100 m. Cây cầu này cũng cao hơn cầu Royal Gorge ở Colorado (Mỹ) 205 m. Đây cũng là cây cầu duy nhất trên thế giới nơi vật có kích cỡ và trọng lượng bằng một người rơi xuống có thể đạt vận tốc cuối - vận tốc vật thể rơi không còn có gia tốc được nữa. Cầu dài khoảng 900 m. Cây cầu này không chỉ là tuyến đường giao thông, mà còn là một công trình đáng ngưỡng mộ. Từ trên cầu, du khách có thể ngắm nhìn sông Sidu xanh biếc uống lượn qua hẻm núi.

3. U Bein - Cây cầu gỗ lâu đời và dài nhất thế giới



Cầu U Bein được đánh giá là cây cầu gỗ lâu đời, dài nhất thế giới và là một trong những nơi ngắm hoàng hôn đẹp tuyệt vời.

Cầu U Bein nằm tại ngoại ô cố đô Mandalay, Myanmar, nối liền hai bờ của sông Taungthamna. (Ảnh: deviantart.)
Cầu U Bein có chiều dài tới 1,2km và được làm bằng gỗ tếch, tận dụng những cây gỗ tếch từ một cung điện cổ xưa.Cầu được xây dựng từ năm 1800 bởi thị trưởng U Bein.Đến nay, cây cầu có hơn 1.000 cột lớn và hàng nghìn phiến gỗ ghép.Ban đầu, cây cầu này hoàn toàn được dựng bằng gỗ nhưng sau đó một số trụ và lan can cầu ở phần ngập trong nước đã được thay bằng trụ bê tông để đảm bảo an toàn cho người đi lại.

4. cầu vượt biển dài nhất thế giới


Cầu có chiều dài 36.48 km, với 8 làn xe, nối hai khu trung tâm của thành phố Thanh Đảo. Ảnh: Xinhua

Cây cầu vượt biển dài nhất thế giới bắc qua vịnh Giao Châu của thành phố Thanh Đảo, Trung Quốc. Xinhua cho biết cầu được khởi công xây dựng từ tháng 5/2007 với tổng chi phí là 2,3 tỷ USD. Với 8 làn xe và chiều dài 36,48 km nối trung tâm thành phố Thanh Đảo với huyện Hoàng Đảo, đây là cây cầu vượt biển dài nhất trên thế giới. Ông Han Shouxin, phó giám đốc Ủy ban quản lý giao thông thành phố Thanh Đảo, cho biết cây cầu này giúp khoảng cách giữa hai khu trung tâm được rút ngắn 30 km và giảm thời gian lưu thông từ 40 phút xuống còn một nửa.Trước đó, danh hiệu cầu vượt biển dài nhất thế giới thuộc về cây cầu bắc qua vịnh Hàng Châu với chiều dài 36 km, nối liền hai thành phố Gia Hưng và Ninh Ba ở tỉnh Chiết Giang, miền đông Trung Quốc.





Cầu xuyên biển nối liền hai quốc gia Đan Mạch và Thụy Điển The Oresund là cây cầu nằm giữa biên giới của hai nước Đan Mạch và Thụy Điển. Với kiến trúc độc đáo, kết hợp cầu và đường hầm xuyên lòng biển, đã biến nơi đây thành điểm du lịch nổi tiếng khắp thế giới. Cây cầu không chỉ giúp người dân hai đất nước đi lại thuận tiện mà còn là một kiệt tác kiến trúc nhân tạo đặc sắc. Cây cầu được khánh thành vào ngày 1/7/2000. The Oresund được thiết kế bởi kiến trúc sư Đan Mạch George K.S. Rotne, bắt đầu từ thủ đô Copenhagen của Đan Mạch và kết thúc tại thành phố Malmo, Thụy Điển. Cầu Oresund được xây dựng trên các trụ tháp và một nhịp chính là hệ cầu treo dây văng (cable-stayed bridge). Nhịp chính dài 490m với 80 dây văng trên 4 cột cao 203.5m so với mực nước biển. Cầu có tổng chiều dài 7.85km, trong đó 5.35km nằm bên phía Thụy Điển và 2.5km nằm bên phía Đan Mạch. Cầu gồm hai tầng, tầng trên là xa lộ châu Âu E20, gồm 4 làn đường rộng 23.5m dành cho xe hơi và tầng dưới với hai đường ray dành cho xe lửa. Lên cầu, du khách sẽ được đi xuyên qua một hòn đảo nhân tạo tuyệt đẹp có tên Peberholm. Để tạo nên điểm trung chuyển đặc biệt này, các nguyên liệu xây dựng đã được nạo vét từ dưới lòng đại dương. Tiếp nối cây cầu hũng vĩ và hòn đảo xinh đẹp là 4 đường hầm riêng nối với đảo Amager, Đan Mạch. Đây là một trong những nơi ngắm hoàng hôn và bình minh đẹp nhất thế giới.





Cây cầu có chiều dài 570m bắc qua sông Vitim với bề rộng cho xe đi qua chỉ hơn 2m và đáng chú ý là nó không hề có lan can hay bất cứ một biện pháp bảo vệ nào để đảm bảo an toàn cho các xe ô tô khỏi bị rơi xuống dòng sông đóng băng bên dưới nếu không may sự cố xảy ra. Cấu trúc kim loại mục nát của cầu chỉ đơn giản được bao phủ gỗ cũ lên mặt đường đi vì thế mà nó trở nên rất trơn khi có băng và tuyết mà đặc điểm thời tiết này thì gần như xuất hiện quanh năm. Ban đầu được thiết kế như một cây cầu đường sắt thuộc đường ray xe lửa chính nối Baikal–Amur, tuyến đường sắt dài 4.324 km đi qua Đông Siberia và viễn đông Nga, thế nhưng cây cầu Kuandinsky (a.k.a Kalarsky) chưa bao giờ được khánh thành, vì vậy người dân làng Kuanda, một ngôi làng lân cận với khoảng 1.500 dân, bắt đầu sử dụng nó để qua sông Vitim.








Cầu được xây dựng vào năm 1883, là cây cầu treo bằng thép đầu tiên. Cầu Brooklyn bắc qua sông East, nối hai bờ Manhattan và Brooklyn. Di tích lích sử quốc gia này trở thành một trong những điểm du lịch chính của thành phố New York. Cầu Brooklyn, một trong những chiếc cầu treo lâu đời nhất tại Hoa Kỳ, dài 1.825m, khánh thành ngày 24/05/1883 sau 13 năm xây dựng, với chi phí 15 triệu USD, nối liền khu Manhattan, thành phố New York, với khu Brooklyn bên kia dòng sông Đông (East River). Vào năm 1883, một kỹ sư giàu óc sáng tạo tên là John Roebling, cảm thấy hứng thú với ý tưởng sẽ xây cây cầu ngoạn mục này. Tuy nhiên, các chuyên gia cầu đường bảo ông hãy quên ý tưởng đó đi vì đó là một dự án bất khả thi. Không nản lòng, ông thuyết phục con trai mình là Washington, cũng là một kỹ sư đầy tiềm năng. Cả hai cha con cùng ấp ủ ý tưởng về cách hoàn thành cây cầu và cách vượt qua mọi trở ngại. Bằng mọi cách, họ thuyết phục các ngân hàng đầu tư tài chính cho dự án xây cầu này. Hết sức phấn khởi và nhiệt thành, họ tuyển nhân công và bắt đầu xây cây cầu như mơ ước của mình. Cầu Brooklyn được khởi công từ tháng 1/1870, với hai tòa tháp nằm gần phía hai bờ, xây theo kiểu kiến trúc "Tân Gô-tic" (xuất hiện tại Anh từ thập niên 1740), đỡ lấy thân cầu với những cáp treo bằng thép. Đây cũng là chiếc cầu treo bằng thép đầu tiên trên thế giới, trở thành công trình kiến trúc được trân trọng nhất New York và được công nhận là công trình lịch sử quốc gia vào năm 1964. Hơn nữa, việc xây dựng cầu còn được xem là một kỳ tích, khi kiến trúc sư gốc Đức john Augustus Roebling (1806 - 1869), người thiết kế cây cầu, qua đời khi đang chuẩn bị xây dựng cầu. Con ông là Washington Roebling (1837 - 1926) tiếp tục công trình của cha, nhưng chẳng bao lâu sau khi khởi công, Washington gặp tai nạn khi đi khảo sát lòng sông Đông và bị liệt toàn thân. Tuy nhiên, trong suốt 13 năm, Washington hướng dẫn bằng ngón tay duy nhất còn chuyển động của mình cho vợ ông là Emily Warren Roebling (1843 - 1903). Dưới sự hướng dẫn của chồng, bà đã vừa tự học cùng với các kỹ sư tại công trường vừa tiếp tục công việc cho đến khi hoàn tất. Do vậy, tên của ba người trong một gia đình đã được ghi khắc lên công trình lịch sử này.






Đây là cây cầu bằng thép hình vòng cung rộng nhất thế giới: xấp xỉ 49 m, gồm 2 đường xe lửa, 8 làn đường ô tô, một làn đường dành riêng cho xe đạp và một làn cho người đi bộ. Một trong những điểm thu hút du khách là điểm ngắm cảnh phía đông nam trên cầu, với một quán cà phê, một bảo tàng về thổ dân Australia, cũng là nơi chiêm ngưỡng và chụp những cảnh đẹp ngoạn mục của nhà hát con sò và bến cảng Circular Quay. Cầu Harbour cũng là một thắng cảnh nổi tiếng của Sydney. Cầu khánh thành năm 1932, dài hơn 1 cây số và đã từng là kiến trúc cao nhất Sydney. Bạn có thể đi bộ qua cầu để ngắm nhìn cảnh cảng, sau đó đi phà quay trở lại bến cảng để ngắm cầu từ góc độ khác. Nếu thích mạo hiểm và có đầy đủ năng lượng, bạn có thể leo lên đỉnh ở độ cao 134m để ngắm nhìn cảnh cảng và nhà hát Opera.




Cầu Akashi Kaikyo có tên tiếng Anh là Pearl Bridge - một cầu treo kiểu kết cấu dây võng ở Nhật Bản bắc qua vịnh Akashi, nối Maiko ở Kobe với Iwaya của đảo Awaji và là một phần trong tuyến đường cao tốc Honshu – Shikoku. Cầu Akashi Kaikyo khánh thành ngày 5/4/1998 và là cây cầu treo có nhịp dài nhất thế giới tại thời điểm đó; chiều dài nhịp chính là 1991 mét. Tổng chiều dài cầu là 3911m. Với độ dài gần 4 cây số. Cầu băng qua eo Naruto, một địa danh nổi tiếng ở Nhật Bản với những xoáy nước dữ dội, làm cản trở sinh hoạt, giao lưu và làm ăn sinh sống của cộng đồng nơi đây.






Cầu treo Chesapeake, Maryland, Mỹ Được xây dựng với 778,3 triệu đô. Người dân nơi đây thường nói, chính phủ đã ném xuống mặt hồ một đống tiền mặt để xây dựng cây cầu treo này. Cầu treo Chesapeake nối liền bờ Đông, bờ Tây của thành phố Maryland. Ban đầu, cây cầu cũ được bắc vào năm 1952 và năm 1973 được xây dựng lại ngốn hết 778,3 triệu đô. Từ khi cây cầu này được xây dựng lại thì giao thông của thành phố này cũng chuyển biến rõ rệt.

Khanhnguyen' s blog sưu tập
Share:

Social Button


Tổng số lượt xem trang

Khách đang xem trang

Số lượng :

Comments mới nhất

Random Post

Mời bạn ghé thăm

PearLand Nails and Spa

Kết bạn cùng Blog Khanhnguyen

Cần bán gấp:


Trang Liên Kết

 
BACK TO TOP