Cảm nhận tư duy & Tổng hợp Kiến thức
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn hóa truyền thống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn hóa truyền thống. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 21 tháng 4, 2017

Cách uống chè

Cách uống chè thì trong sách Kiên biều đã nói rõ. Họ Lư, họ Lục nổi tiếng về uống chè. Đến đời Tống mới thấy bày đồ ấm chén, hỏa lò, cấp thiêu, đại khái cũng là những đồ để pha chè. Có ông Giới Phủ  thưởng chè Dương Tiễn, ông Tử Chiêm thưởng chè Vân Long. Từ đời Minh, đời Thanh trở xuống, cách chế chè càng tinh, đồ dùng chè càng đủ. Những thứ chè bồi sao, chế biến cũng khéo, và những các hồ, ấm, đĩa, chén, than, lửa, hỏa lò, cấp thiêu đều sắm sửa lịch sự cả. Nào là chè Võ Di, lò Thành Hóa, ấm Dương Tiễn, đều là những thứ tuyệt phẩm dùng để pha chè. Kể thói tục bày vẽ ra có lắm thứ khác nhau, nhưng chẳng qua cũng mấy thứ ấy mà thôi. Còn như chè tuyết nha, nước suối hồng tâm, dẫu các hạng phong lưu người Trung Hoa cũng chưa được nếm đủ hết, nên không dám nói đến.
Thị hiếu của người ta cũng hơi giống người Trung Hoa. Ta sinh trưởng đương lúc thịnh thời đời Cảnh Hưng, trong nước vô sự, các nhà quí tộc, các bậc công hầu, các con em nhà quý thích đều đua chuộng xa xỉ, có khi mua một bộ ấm chén, phí tổn đến vài mươi lạng bạc. Thường có nhiều người đến chơi các hiệu chè, thăm dò các phố buôn, vác tiền hết quan ấy chục khác để mua chè ngon. Lúc ngồi rỗi, pha chè uống với nhau, lại đánh cuộc xem chè đầu xuân năm nay sớm hay muộn, giá chè năm nay cao hay hạ. Kẻ thì ưa thanh hương, người thì thích hậu vị, kén hiệu trỏ tên, mua cho được chè ngon, bày khay chén ra nếm thử. Thậm chí có kẻ đặt tiền sẵn mua cho được hiệu chè Chính Sơn, gửi tàu buôn đặt cho được kiểu ấm chén mới lạ, cách hiếu thượng đến thế là cùng cực. Song cái thú uống chè tàu có phải ở chỗ đó đâu! Chè tàu thú vị ở chỗ nó tinh sạch sẽ, hương nó thơm tho. Buổi sớm gió mát, buổi chiều trăng trong, với bạn rượu làng thơ cùng làm chủ khách mà ung dung pha ấm chè tàu ra thưởng thức thì có thể tỉnh được mộng trần, rửa được lòng tục. Ấy, người xưa ưa chuộng chè tàu là vì vậy. Từ các đời gần đây trở xuống, thưởng thức chè tàu càng ngày càng tinh, vị chè nào khác, cách chế chè nào ngon, đều phân biệt kỹ lắm. Lò, siêu, ấm, chén, lại chế ra nhiều kiểu thích dụng. Song chế ra nhiều thứ chè, kẻ thức giả cũng cho làm phiền lắm. Còn như nếm chè ở trong đám ruồi nhặng, bày ấm chén ở cửa chợ bụi lầm, lúc ồn ào đinh óc, vơ vẩn rộn lòng, thì dẫu ấm cổ đẹp đẽ, chè ngon ngát lừng, ta chẳng biết uống chè như thế có thú vị gì không? Giá có gặp ông tiên chè, thì cũng cho lời nói ta làm phải.


Mùa thu năm Mậu Ngọ (1798), ta dạy học ở thôn Khánh Vân, tổng Hà Liễu, các học trò kinh thành cũng thường gửi quà về hỏi thăm, tuy cơm rau nước lã không được dư dụ cho lắm, nhưng chè tàu thì không lúc nào thiếu. Thôn Khánh Vân ở hạ lưu sông Tô Lịch, phía Bắc tiếp Xuân Nê, phía Nam gần Đỗ Hà; các núi Hoàng Xá về vùng Ninh Chúc, Tử Trầm, Nam Công thì vòng quanh ở phía Tây, còn những làng Nguyệt Cái, Đại Cái , Liễu Nội, Liễu Ngoại đều trông thấy ở gần chung quanh cả. Thổ sản có thứ vải quả, rau dưa, làng xóm rừng khe cũng nhiều chỗ tĩnh mịch đẹp đẽ . Khi dạy học rảnh, ta thường cùng với người đàn anh trong làng là Tô nho sinh dạo chơi chùa Vân, pha chè uống, hoặc trèo lên cái gò ba tầng ở phía tây xóm ấy, rồi múc nước suối pha chè uống chơi. Trông thấy những cảnh mây nổi hợp tan, chim đồng bay lượn, cùng là cỏ cây tươi tốt hay tàn tạ, hành khách lại qua, ta thường thường gửi tâm tình vào câu ngâm vịnh. Sau chỗ nhà trường ta là giải sông Tô, men theo bờ đê đi ngược lên đến cầu Nhị Khê là chỗ người làng qua lại nghỉ mát. Một buổi chiều, ta cùng với Tô huynh lên chỗ cầu xem các bè đánh cá, thấy đôi bên bờ sông bóng cây so le thấp thoáng, mảnh trăng in trên mặt nước trong veo, hai anh em cùng ngồi nói chuyện gẫu, bất giác tâm thần thanh sảng, thú vị vô cùng. Thấm thoát mới vài bốn năm nay, ta đã thôi không dạy học đấy nữa, mà Tô huynh thì đã qua đời. Tiền Mục Am có nói: "Cái vui về non nước bè bạn, tạo vật chưa dễ đã cho mọi người được hưởng, mà còn có phần lại khó hơn lợi lộc với vinh danh". Lời nói ấy chẳng là phải ru?
Từ đời Khang Hy trở về sau, uống chè tàu mới đổi ra pha từng chén nhỏ, chứ không hãm trong ấm to nữa, vì uống chè, ấm chén cốt nho nhỏ, mỏng, khi pha mới nổi hương vị. Vòi ấm thẳng thì nước không đọng, mặt đĩa phẳng thì đặt chén không nghiêng, rế lò dầy mà lỗ thưa thì than lửa không bốc nóng quá, lòng ấm siêu lồi lên và mỏng thì sức lửa dễ thấu, chóng sôi. Ấy, cái cách pha chè uống nước, mới đầu còn thô, sau tinh dần mãi ra.
Gần đây lại có chế ra thứ siêu đồng cũng khéo, nhưng kim khí bị hỏa khí nó hấp hơi, thường có mùi tanh đồng, không bằng dùng siêu đất nung, pha chè tốt hơn. Song các nhà quyền môn phú hộ khi uống chè lại lười không muốn pha lấy. Thường thường họ giao cho tiểu đồng pha phách tất cả, dùng siêu đồng cho tiện và lâu vỡ, như thế không phải bàn làm chi nữa. Khoảng năm Cảnh Hưng, ở Tô Châu có chế ra một thứ hỏa lò và một thứ than tàu đem sang bên ta bán, đều là những đồ dùng của khách uống chè cần đến, người ta đua nhau mua. Song gần đây đã có người biết cách chế ra, cũng bắt chước luyện than mà hầm lửa, nắm đất mà nặn lò, so với kiểu của Trung Hoa chẳng khác gì, người ta cũng ưa chuộng. Ta nhân thế lại tiếc cho người cầm quyền nước, xưa nay không biết lưu ý đến việc công nghệ dân ta. Tiếc thay!

Phạm Đình Hổ (Vũ trung tùy bút)
Nguồn Món ăn ngon
Share:

Thứ Hai, 27 tháng 3, 2017

14 cổ vật “cao tuổi” nhất thế giới

Có những đồ vật chúng ta đang sử dụng thời nay đã được phát minh từ hàng nghìn năm trước, và những thông tin dưới đây chắc chắn sẽ khiến bạn vô cùng bất ngờ.


Huy chương này là một trong những đồ vật cổ xưa nhất của con người trên thế giới. (Ảnh: kirkinews)
1. Huy chương cổ nhất thế giới – niên đại 2700 năm
Huy chương lâu đời nhất được tìm thấy ở các thành phố Hy Lạp cổ đại, một mặt của huy chương có in hình dạng giống như đầu của một con sử tử.
2. Viên đá điêu khắc lâu đời nhất thế giới – niên đại 3,3 triệu năm
Viên đá điêu khắc lâu đời nhất thế giới – niên đại 3,3 triệu năm. (Ảnh: kirkinews)
Ở kenya, nhóm khảo cổ đã khai quật được nhiều di tích từ thời tiền sử, trong đó có viên đá được điêu khắc trên.
3. Bài hát lâu đời nhất thế giới – niên đại 3400 năm

Các dòng chữ ghi trên phiến đá này được phát hiện ở trị trấn Uman – Ukraina. Nó có niên đại 1400 năm trước công nguyên và là một bài thánh ca về thần Nikal. (Ảnh: kirkinews)
4. Ngón chân giả lâu đời nhất thế giới – niên đại 3000 năm

Ngón chân giả được làm từ gỗ và da đã được tìm thấy trong xác ướp tại Ai Cập. (Ảnh: kirkinews)
Ngón chân giả được làm từ gỗ và da đã được tìm thấy trong xác ướp tại Ai Cập. Trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã xác nhận đó là một phụ nữ sống trong những năm 950 trước công nguyên.
5. Váy dệt lâu đời nhất – niên đại 5900 năm

Váy dệt truyền thống này được tìm thấy tại một hang động ở mrmenia. (Ảnh: kirkinews)
Váy dệt truyền thống này được tìm thấy tại một hang động ở mrmenia. Với niên đại 5900 năm, chứng tỏ hang động này đã được người cổ đại dùng làm nơi sinh sống trong nhiều thế kỷ.
6. Chiếc ví cổ nhất – niên đại 4500 năm

Chiếc ví cổ được làm từ 100 chiếc răng chó với niên đại khoảng 2500 năm trước công nguyên. (Ảnh: kirkinews)
Trong khu vực khảo cổ tại thành phố Leipzig ở Đức, các nhà khảo cổ đã tìm thấy chiếc ví cổ được làm từ 100 chiếc răng chó với niên đại khoảng 2500 năm trước công nguyên. Việc phát hiện này đã chứng minh thời trang của thời đại đó rất phát triển.
7. Chiếc tất lâu đời nhất thế giới – niên đại 1500 năm

Một chiếc tất len đã được phát hiện trong thể kỷ 19 ở Ai Cập. (Ảnh: kirkinews)
Một chiếc tất len đã được phát hiện trong thể kỷ 19 ở Ai Cập. Nó được thiết kế để sử dụng cùng đôi dép để làm đẹp, niên đại vào khoảng những năm 300 – 400 năm sau công nguyên.
8. Công thức lâu đời nhất thế giới – Niên đại 5000 năm

Chiếc bia có khắc công thức từ thời đại Sumer. (Ảnh: kirkinews)
Chiếc bia có khắc công thức từ thời đại Sumer ở những năm 3000 trước công nguyên. Đến nay nó vẫn rất bền.
9. Chiếc quần lâu đời nhất thế giới – Niên đại 3300 năm

Chiếc quần được dệt bằng len và có niên đại 3300 năm tuổi, (Ảnh: kirkinews)
Trông giống như một chiếc quần cũ khi mới được tìm thấy, nhưng nó được dệt bằng len và có niên đại 3300 năm tuổi, được tìm thấy ở miền tây Trung Quốc.
10. Nhạc cụ lâu đời nhất – 43000 năm

Nó được tìm thấy trong một hang động ở Đức. (Ảnh: kirkinews)
Trong năm 2012, các nhà nghiên cứu dã phát hiện ra nhạc cụ này có niên đại khoảng 43.000 năm tuổi, có thể làm bằng ngà voi, xương của các loại chim khổng lồ. Nó được tìm thấy trong một hang động ở Đức.
11. Kẹo cao su lâu đời nhất thế giới – 5000 năm

Bã kẹo được xác định niên đại 5000 năm với những dấu răng trên đó. (Ảnh: kirkinews)
Một miếng bã kẹo cao su làm từ vỏ cây bạch dương đã được tìm thấy bởi các sinh viên khảo cổ đến từ Phần Lan. Bã kẹo được xác định niên đại 5000 năm với những dấu răng trên đó.
12. Phòng tắm lâu đời nhất thế giới – Niên đại 2000 năm

Phòng tắm 2000 năm tuổi này được tìm thấy ở thành phố cổ Ephesus ở Thổ Nhĩ Kỳ. (Ảnh: kirkinews)
Phòng tắm 2000 năm tuổi này được tìm thấy ở thành phố cổ Ephesus ở Thổ Nhĩ Kỳ. Đây là phong cách tắm từ thời cổ đại rất rõ rằng, nước được chảy xuống sông ở các khu vực lân cận.
13. Giày lâu đời nhất thế giới – niên đại 5500 năm

Một chiếc giày cổ với niên đại 5500 tuổi. (Ảnh: kirkinews)
Một chiếc giày cổ với niên đại 5500 tuổi đã được tìm thấy trong một hang động ở Armenia. Nó được làm bằng da và dệt rất công phu.
14. Bản đồ thế giới lâu đời nhất – niên đại 510 năm

Các kí hiệu về thế giới được khắc tỉ mỉ lên vỏ của trứng đà điểu. (Ảnh: kirkinews)
Các kí hiệu về thế giới được khắc tỉ mỉ lên vỏ của trứng đà điểu. Một bản đồ thế giới thời đó đã hiên lên trên quả trứng và các nhà khoa học tin rằng nó được làm tại Flerence, Ý.
Theo kyluc
Nguồn http://tinhhoa.net
Share:

Thứ Sáu, 24 tháng 2, 2017

Hoa mẫu đơn - Truyền thuyết và ý nghĩa


Theo Wikipedia - Tự điển Bách khoa Toàn thư: 
Hoa mẫu đơn là một trong số các hoa đã được sử dụng lâu nhất trong văn hóa trang trí và là một trong các biểu trưng quốc gia của Trung Quốc. Cùng với hoa mai, nó là biểu tượng thực vật truyền thống của quốc gia này, tại đây người ta gọi nó là 牡丹 (mẫu đơn). Từ đời nhà Tống, hoa mẫu đơn đã được phong là "hoa vương". Năm 1903, nhà Thanh tuyên bố rằng mẫu đơn là quốc hoa. Hiện nay, Trung Hoa dân quốc tại Đài Loan đã chọn hoa mai (Prunus mume) là quốc hoa, trong khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không có quốc hoa chính thức. Năm 1994, hoa mẫu đơn đã được đề nghị làm quốc hoa sau một cuộc trưng cầu dân ý khắp toàn quốc, nhưng Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc đã thất bại trong việc thông qua sự lựa chọn này. Năm 2003, một quá trình lựa chọn khác cũng đã được bắt đầu, nhưng cho tới năm 2006 thì vẫn chưa có sự chọn lựa nào được đưa ra. Tuy nhiên đến năm 2010, loại hoa này đã được công nhận chính thức là "quốc hoa" của Trung Quốc.

Thành phố cổ nổi tiếng Lạc Dương của Trung Quốc có danh tiếng như là trung tâm nuôi trồng các loài mẫu đơn. Trong lịch sử Trung Quốc, mẫu đơn của Lạc Dương luôn được coi là đẹp nhất. Hàng loạt các cuộc triển lãm hoa mẫu đơn cũng được tổ chức ở đây hàng năm.
Tại Nhật Bản, Paeonia lactiflora đã từng được gọi là ebisugusuri ("y học ngoại quốc"). Trong hán phương (sự sửa đổi lại của y học cổ truyền Trung Hoa cho thích hợp với Nhật Bản), rễ của các loài mẫu đơn được dùng để điều trị chứng co giật. Nó cũng được trồng làm cây cảnh. Người ta cũng cho rằng Paeonia lactiflora là "vua của các loài hoa".
Mẫu đơn cũng là loài hoa biểu trưng của bang IndianaMỹ. Năm 1957, Quốc hội bang Indiana đã thông qua một đạo luật để cho hoa mẫu đơn trở thành hoa biểu trưng của bang. Nó thay thế cho cúc zinnia là loài hoa biểu trưng của bang này từ năm 1931.
Các loài mẫu đơn có xu hướng thu hút kiến tới các nụ hoa. Đó là do mật hoa được tạo ra ở bên ngoài các nụ hoa này.
Những Tích Truyện Xa Xưa Về Hoa Mẫu Đơn
Chuyện Thứ Nhất
Ngày xưa… ở một làng miền núi có một bà mẹ. Bà mẹ sinh được mười người con trai. Làng của mẹ bị giặc chiếm đóng. Người cha của mười anh con trai bị giặc giết ngay từ ngày đầu tiên, khi chúng tiến vào làng. Mười người con trai của bà vào đội quân chống giặc ở trong núi. Người con trai cả là chủ tướng của đội quân. Đội quân nay đã làm cho bọn giặc thất điên bát đảo. Đã nhiều lần giặc mở những trận càn quét mà không sao tiêu diệt được đội quân của cái làng bé nhỏ ấy.

Tên tướng giặc sai quân bắt bà mẹ đến, hắn bảo:
– Này mụ già, mụ hãy khuyên các con mụ trở về. Ta sẽ cho con mụ làm tướng. Bằng không, ta sẽ giết mụ.
Bà mẹ nhìn thẳng vào mắt tên tướng giặc, nói lớn:

– Hỡi quân độc ác! Hẳn nhà ngươi cũng có một bà mẹ. Mẹ ngươi chắc không bao giờ dạy người phản bội lại quê hương. Là một người chân chính, ta cũng không thể dạy các con ta phản bội lại quê nhà.
Bọn giặc trói mẹ trên một ngọn đồi rồi cho quân mai phục hòng bắt được những người con của mẹ đến cứu. Chúng bảo bà mẹ hãy đứng dậy mà gọi con, chúng sẽ tha. Tiếng người mẹ:
– Hỡi các con của mẹ! Hỡi những người con của quê hương. Ta nhân danh người mẹ, ra lệnh cho các con không được vì ta mà phản bội quê hương.
Mệnh lệnh của người mẹ là mệnh lệnh trái tim, mệnh lệnh của tình yêu vĩ đại. Mệnh lệnh đó lan khắp núi rừng. Bọn giặc run sợ. Những người con của mẹ thì thêm sức mạnh chiến đấu. Giặc bịt miệng bà mẹ. Chúng đổ nhựa thông và nhựa trám lên đầu bà và châm lửa đốt. Ngọn lửa cháy sáng cả một vùng
Khi bọn giặc đi rồi, dân làng lên đồi tìm chỗ bà mẹ bị hành hình, người ta thấy trái tim của người mẹ vẫn nguyên vẹn và nóng bỏng. Dân làng chôn mẹ ngay trên đỉnh đồi. Đêm đêm, từ ngôi mộ, trái tim mẹ vẫn phát sáng cả một vùng trời.
Mùa xuân đến. Từ ngôi mộ, trái tim ấy mọc lên một cái cây. Cây ra hoa. Bông hoa đỏ chót hình ngọn lửa bốc lên từ trái tim người mẹ. Và cũng từ ngày ấy có một loại hoa mang tên Mẫu Đơn. Cây hoa tượng trưng cho người mẹ đã chiến đấu bằng một trái tim…
Chuyện Thứ Hai
Chuyện kể rằng, vào đời Đường Cao Tông, do say đắm Võ Hậu, lúc Vua băng hà do con trai (Hoàng Thái Tử) còn nhỏ, Võ Hậu chuyên quyền nhiếp chánh hãm hại công thần, tự xưng vương, đổi nhà Đường thành nhà Đại Châu, xưng hiệu Võ Tắc Thiên hoàng đế. Một hôm, Võ Tắc Thiên (được biết nhiều qua phim ảnh dã sử của Trung Hoa) khi ngự du vườn thượng uyển nhìn cỏ cây xác xơ, trơ trọi liễu đào, ủ rũ điêu tàn, liền truyền lệnh bằng bài tứ tuyệt khắc ngay cửa vườn:
Lai triều du thượng uyển – Hỏa tốc báo xuân trị

Bách hoa liên dạ phát – Mạc đãi hiểu phong xuỵ

Dịch nghĩa:

Bãi triều du thượng uyển – Gấp gấp báo xuân haỵ
Hoa nở hết đêm nay – Đừng chờ môn gió sớm.

Linh ứng thay! Trăm hoa phụng mệnh, chỉ trong một đêm bừng nở khắp vườn, mùi thơm sực nức nhân gian! Rạng sáng hôm sau, Võ Tắc Thiên dạo vườn trông muôn hồng ngàn tía ngoan ngoãn đua chen nở rộ, lấy làm tự mãn cho rằng quyền uy tột đỉnh. Bất giác, bà Chúa bạo dâm Võ Tắc Thiên nhìn cây Hoa Mẫu Đơn bất tuân thượng mệnh, thân cây khẳng khiu cứng cỏi, không hoa lá. Giận thay cho loài hoa ngoan cố, Võ Tắc Thiên ra lệnh đày Mẫu Đơn xuống tận Giang Nam (!). Nhưng lạ thay, khi tới vùng đất nghèo nàn hơn hoa lại nở rộ và vẻ đẹp luôn rực rỡ làm đắm đuối lòng người, và từ đó ngay cả sử sách Trung Hoa cũng ghi nhận vùng Giang Nam luôn xuất hiện nhiều tuyệt sắc giai nhân, những mỹ nữ có sắc đẹp nghiêng thành đổ nước. Cũng từ đó, vùng Giang Bắc thiếu vắng loài hoa vương giả, một biểu trưng cho quốc sắc thiên hương…
Người đương thời thấy vậy dệt bài Phú Ngọc Lâu Xuân Tứ nhằm thương hại và tán thán vẻ đẹp, sự khẳng khái của hoa Mẫu Đơn, thà chịu cảnh phong trần lưu lạc tự giải phóng cuộc đời chớ không làm vương giả chốn kinh đô, chịu giam mình trong vườn hoa tù hãm của bạo chúa, đem sắc đẹp hương thơm ban rải cho mọi người để được dự phần thanh cao.
Về sau người ta dùng từ “quốc sắc thiên hương” (sắc nước hương trời) để hình dung hoa mẫu đơn. Hoặc có cách phác họa khác là: “Thiên hạ chân hoa độc mẫu đơn” (chỉ có mẫu đơn mới xứng đáng là hoa thật trong thiên hạ).
Những Thông Tin Thú Vị Về Hoa Mẫu Đơn
Khi những nhà truyền giáo đạo Phật đến Nhật Bản, họ đã đem theo kiến thức về những bông hoa Mẫu đơn này. Người Nhật luôn là một dân tộc yêu hoa, nên bông hoa đẹp mới đến nhanh chóng trở thành một phần trong văn hóa của họ. Mẫu đơn là bông hoa của Tháng Sáu ở Nhật Bản. Từ Trung Hoa và Nhật Bản, nó chu du sang tận đỉnh núi Olympus, tìm cho mình một cái tên.
Tên tiếng Việt : Hoa Mẫu Đơn

Tên Hồng Kông : Sho-Yo (hay Shao-Yao)
Tên tiếng Anh : Peony
Tên tiếng Pháp : Pivoine officinale
Tên Latin : Paeonia officinalis
Tên khoa học : Paeonia lactiflora
Họ : Paeoniaceae

Peony được đặt tên theo Paeon, một thầy thuốc học trò của Thần Y Asclepius trong thần thoại Hy Lạp.Ông được nữ thần Leto (mẹ của thần Mặt Trời Apollo) mách bảo cách lấy được chiếc rễ thần kỳ mọc trên đỉnh Olympus mà nó có thể xoa dịu được cơn đau của người phụ nữ khi sanh nở. Asclepius trở nên ghen tức với Paeon. Để cứu Paeon thoát chết vì sự phẫn nộ của Asclepius, thần Zeus đã biến ông thành một bông hoa Mẫu đơn.
Ngày nay, Mẫu đơn là biểu tượng của sự thịnh vượng, phồn vinh. Từ xa xưa, loài hoa vương giả này chỉ thuộc sở hữu của giới quý tộc giàu có ở Hồng Kông. Bông hoa quốc sắc thiên hương này từng rất được ưu ái qua nhiều triều đại, với mệnh danh “Chúa của muôn hoa”. Nhất là giai đoạn từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 13 sau Công Nguyên. Mẫu đơn được ca tụng trong văn thơ, nhạc và tranh vẽ lúc bấy giờ.
Thành phố Lạc Dương (tiếng La Tinh là Luoyang, 1 trong 4 thành phố cổ kính nhất Hồng Kông), nổi tiếng về nhiều chủng loại Mẫu đơn phong phú, rực rỡ sắc màu nhờ thời tiết ôn hòa và đất đai thích hợp. Ngày 21/9/1982, người dân Luoyang chính thức chọn Mẫu đơn là biểu tượng hoa của thành phố mình. Tháng 4 là tháng của Hoa Mẫu Đơn, thật sự là mùa vui cho những người yêu hoa ở xứ sở này. Hoa Mẫu đơn nở đẹp lộng lẫy, hương thơm, sắc màu hoa hiện diện khắp nơi trong thành phố. Và lễ hội Mẫu đơn Louyang – Luoyang Peony Festival được tổ chức từ 15/4 – 25/4 hằng năm là một lễ hội văn hóa lớn, niềm tự hào của cư dân Luoyang. Suốt mùa lễ hội, tưng bừng những đèn lồng sặc sỡ, các hoạt động kinh tế cũng khá nhộn nhịp, không khí vui tươi và gây một ấn tượng sâu sắc cho tất cả các du khách trên khắp thế giới đến chơi. Ở Luoyang có những loài Mẫu đơn quý hiếm, màu sắc thay đổi lạ, hay cả những bông hoa lớn đến hàng trăm cánh, sống đã hàng trăm tuổi.
Hoa Mẫu Đơn là nguồn cảm hứng nghệ thuật:
Các loài hoa luôn tô điểm cho đời nhưng chỉ duy Mẫu Đơn khiến ai ngắm nhìn cũng phải xúc động vì vẻ sang trọng huyền bí và lộng lẫy của nó. Sự đối lập sâu sắc khiến hoa Mẫu Đơn trở thành nguồn cảm hứng rất lớn trong nghệ thuật thi ca, hội họa, điêu khắc, … và “Quốc sắc thiên hương” là từ được dùng để mỗi khi nói về loài hoa Mẫu Đơn.
Trong nghệ thuật thi ca, có rất nhiều bài thơ viết về hoa Mẫu Đơn trong đó nổi bật nhất là câu thơ “Thiên hạ chân hoa độc Mẫu Đơn” – chỉ có hoa Mẫu Đơn mới xứng là thật hoa trong thiên hạ.
Ngoài ra hoa Mẫu Đơn còn được sử dụng như một hoa văn trang trí trong kiến trúc cung đình, kiến trúc trang trí thời xưa; hình ảnh hoa Mẫu Đơn được in lên quần áo trang trí tượng trưng cho thân phận và quyền lực của người phụ nữ tôn quý nhất.
Trong nghệ thuật ca múa, điệu múa tái hiện hình ảnh hoa Mẫu Đơn vừa e ấp, thanh tao nhưng lại nồng nàn đầy quyến rũ khiến đế vương lạc lối.
Hoa Mẫu Đơn trong phong thủy:
Hoa mẫu đơn từ lâu đã được tôn vinh là Nữ hoàng của các loài hoa. Bởi vậy, dưới chế độ phong kiến Trung Quốc, hoa mẫu đơn chỉ được trồng trong vườn thượng uyển, dân thường không được phép trồng. Hoa mẫu đơn khoe sắc tô điểm cho chốn cung đình hoa lệ và thường được ví với các bậc mỹ nhân, ái phi của vua chúa.
Chính vì ý nghĩa đó, ngày nay tranh hoa mẫu đơn được nhiều gia đình treo trong nhà với mong muốn có được cuộc sống giàu sang, quyền quý. Không chỉ tượng trưng cho cuộc sống phú quý, trong quan niệm phong thủy hoa mẫu đơn còn tượng trưng cho sự chung thủy, hạnh phúc trong tình yêu.
Khanhnguyen' s Blog Tổng hợp
Share:

Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2016

Những đặc sản mùa nước nổi miền Tây


Lẩu cá linh, bông súng, chuột đồng... là những đặc sản bạn nên thử khi đến miền Tây mùa nước nổi.



Lẩu cá linh bông điên điển là món ăn có ở mọi tỉnh thành của đồng bằng sông Cửu Long mùa nước nổi. Tùy từng địa phương mà món lẩu được nấu khác nhau. Có nơi ninh xương để lấy vị ngọt, có người dùng nước hầm cá... Dù nấu như thế nào, món ăn này có hai nguyên liệu không thể thiếu cá linh tươi và bông điên điển.



Cá linh kho mía ăn kèm gỏi cọng súng hoa điên điển. Khi thưởng thức, bạn cho gỏi vào chén, chan cá và nước dùng. Món ăn có vị đắng của bông điên điển, vị tươi của cá, ngọt của mía. 



Gỏi bông điên điển khô cá lóc là một trong những biến tấu của món gỏi xoài khô cá lóc trong mùa nước nổi. Theo nhận xét của nhiều du khách, bông điên điển có vị đắng giúp món ăn có vị mới lạ và hấp dẫn. 



Chuột nướng lu không phải là món ăn ai cũng dám thử. Chuột đồng làm sạch, sơ chế kỹ, ướp với gia vị khoảng một tiếng cho thấm rồi nướng chín vàng. Món ăn này dùng kèm dưa leo, rau răm và muối ớt. 



Canh chua cá lăng - loại cá da trơn, thịt săn chắc xuất hiện nhiều vào mùa nước nổi. Bạn có thể chế biến cá lăng thành nhiều món khác nhau như nướng, kho tộ, chiên... Song, món ăn du khách thường được chiêu đãi khi đến đây vào mùa nước nổi là cá lăng kho thơm, hay cá lăng nấu canh chua. 

Với hai món ăn này, cá lăng được chiên chín với gia vị rồi mới cho thơm vào. 



Cá lóc nướng cuộn lá sen non chấm mắm me cũng là một trong những món ngon đặc trưng vùng sông nước mùa cuối năm. Món ăn này nổi bật với vị đắng của lá sen non, chua ngọt của nước mắm me.



Lẩu lươn: Sự kết hợp của lươn với bông súng, bông điên điển mang đến cho món lẩu lươn hương, vị khác hẳn các thời điểm khác trong năm.



Ốc bươu nướng tiêu xanh: Những con ốc bươu béo mập, săn chắc được ngâm nước gạo qua đêm để loại bỏ bùn đất, xả sạch với nước, chặt đít. Uớp ốc với tiêu xay, tiêu sống, mắm, bột ngọt, đường khoảng 10 phút cho thấm gia vị rồi nướng trên bếp than khoảng 3-5 phút, món ăn sẽ thơm lừng. 



Cá rô kho tiêu: Mùa nước nổi, các loại cá như cá linh, cá heo, cá rô... từ thượng nguồn tràn về đều săn chắc, thơm ngon. Bạn có thể chế biến các loại cá này thành nhiều món khác nhau, song ngon nhất phải kể đến món cá kho tiêu. Cá được tẩm ướp gia vị, kho bằng nồi đất với lửa nhỏ cho thật mềm, thấm. Món này ăn với cơm trắng trong những ngày mưa thì không gì ngon bằng



Cơm gạo lứt hạt sen được xem như món cơm thực dưỡng tốt cho mọi đối tượng, mọi lứa tuổi. Món cơm này có cách nấu đơn giản. Bạn ngâm gạo lứt qua đêm hay ít nhất 2 tiếng đồng hồ. Hạt sen tươi bỏ tim sen để khỏi đắng. Cho gạo lứt và hạt sen tươi vào nồi, nấu với lửa nhỏ khoảng 45 phút là bạn đã có món cơm đầy dưỡng chất.
Huỳnh Hằng

Bạn có thể tham khảo thêm kiến thức ở các chương mục như sau:

Share:

Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2016

Ngày Halloween ở Mỹ


Halloween, chữ viết tắt của All-Hallows-Even (“evening”) (Cả Đêm Thánh), là một tục lệ hàng năm xẩy ra ở Mỹ và Canada vào ngày 31 Tháng 10. Nhiều người ngoại quốc và Việt Nam gọi Halloween là Lễ Ma Quỷ. Vào lễ này, con nít cũng như người lớn hóa trang thành đủ thứ mọi người, thú vật khác nhau. Người lớn ban ngày khi đi làm mặc đồ hóa trang, không mặc quần áo đi làm trịnh trọng như thường lệ. Tối thì đi dự party. Trẻ con tối đến nhà láng giềng xin kẹo. Khi gõ cửa nhà người lạ, chúng nó nói: “Trick or Treat?”, (“Muốn bị phá nhà hay cho kẹo cho chúng tôi?” ) Câu hỏi này có nghĩa là nếu không cho kẹo thì chúng nó có thể làm những trò tác hại để phá nhà, chẳng hạn như chọi trứng tươi lên tường nhà, hay lấy giấy toilette phóng treo toòng-teng trên cây. Tuy nhiên, chỉ có trẻ con lớp 9, lớp 10 mới có thể ngỗ nghịch phá như vậy, còn con nít bé hơn thường có bố mẹ đi theo canh chừng an toàn cho con mình nên chúng không phá như những đứa lớn tuổi.
Trẻ con đứng trước cửa nhà xin kẹo


Một anh trong sở tôi mặc quần áo thời Abraham Lincoln (ảnh chụp bằng iPhone nên mờ mờ ảo ảo!)
Halloween phát xuất từ lễ hội Samhain của các quốc gia vùng Bắc Anh quốc, Celtic Nations. Hai quốc gia Celtic lớn chúng ta biết là Ái-Nhĩ-Lan (Ireland) và Tô-Cách-Lan (Scotland). Samhain là ngày cuối cùng của mùa Thu, ngày theo truyền thống mọi nguời chuẩn bị lương thực dự trữ cho mùa Đông sắp đến. Giai đoạn này theo tục truyền là thế giới người chết đến gần thế giới người sống nhất, và nhiều việc huyền bí có thể xẩy ra. Để đối phó với oan hồn, dân chúng đốt những đống lửa to, dùng thú vật và ngay cả người tế thần để giúp họ chống chọi với ma quỷ. Lịch sử Hoa-Kỳ cho thấy là dân chúng không kỷ niệm lễ Halloween cho đến khi người Ái-Nhĩ-Lan và Tô-Cách-Lan di dân sang Mỹ vào thế kỷ thứ 19.
Đêm Halloween
Rất nhiều người nghĩ rằng Halloween là ảnh hưởng của Lễ Các Thánh (All Saints’ Day) của Thiên Chúa Giáo, xẩy ra vào ngày 1 và 2 tháng 11. Trong hai ngày này, tín đồ tưởng nhớ đến các Thánh và cầu nguyện cho những người vừa mới chết, chưa đến được Thiên Đàng. Trái bí (pumpkin) là một trái cây truyền thống luôn đi đôi với Halloween. Dân chúng khoét ruột của trái bí, khắc những hình ảnh vào vỏ trái bí rồi đốt đèn cầy ở bên trong, như lồng đèn của người mình vào dịp Tết Trung Thu. Ở Tô-Cách-Lan và Ái-Nhĩ-Lan họ dùng củ cải đỏ. Halloween khi xâm nhập sang Mỹ, trùng hợp vào ngày gặt hái trái bí, và vì trái bí to, dễ khắc hình ảnh hơn, nên từ đó nó được trưng dụng vào mùa Halloween.


Trước cửa nhà láng giềng


Vì Halloween liên hệ đến người chết, nhiều nhà Mỹ trang hoàng xác chết, bia mộ, xương người (dĩ nhiên tất cả là giả) vào ngày lễ Halloween. Người lớn, thanh niên cũng thế, thích mặc quần áo liên hệ đến Thần Chết. Các hãng phim thường tung ra phim kinh dị và ma quái vào dịp lễ này. Rất nhiều nơi thiết lập “lâu đài ma quái” với xương người, ma quỷ giả, ở bên trong để dọa khách trả tiền vào xem.

Một nhà láng giềng khác trang hoàng Halloween
Một nhà láng giềng khác trang hoàng Halloween


Rất nhiều nhà thờ Tin Lành chống đối lễ Halloween, cho nó là ngày Lễ Hội Ăn Mừng Người Chết của những tà giáo ngày xưa. Vào ngày lễ này, các nhà thờ Tin Lành thường tổ chức sinh hoạt vui nhộn cho thiếu niên, nhi đồng trong nhà thờ để các em không còn tâm trí nghĩ đến Halloween.
Để kết thúc, nói đến câu “Trick or Treat?”, đây là câu chuyện thật xẩy ra khi gia đình chúng tôi mới đến Mỹ, lúc đó hoàn toàn không biết Halloween là gì. Con trai của anh tôi tên Trí, bấy giờ nó 6 tuổi. Buổi tối Halloween đầu tiên sống trên nước Mỹ, con nít đến nhà gõ cửa xin kẹo, hét lớn : “Trick or Treat?”. Trí cháu tôi lúc đó không có ở nhà. Anh tôi từ trong nhà hét trả lời mấy đứa nhỏ: “Trí is not here!”. Mấy thằng bé con Mỹ ù bỏ chạy, chẳng hiểu anh tôi muốn nói gì!
Nguyễn Tài Ngọc
November 2011
 Tài liệu tham khảo:
Share:

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2016

Ảnh nền đẹp cho mùa Trung thu 2016 và sự tích chú cuội cây đa

Danh mục gồm:(Bạn click vào để chọn xem)


1. Lời bài hát: Rước Đèn Tháng Tám


Tết Trung thu rước đèn đi chơi, E rước đèn đi khắp phố phường Lòng vui sướng với đèn trong tay Em múa ca trong ánh trăng rằm, Đèn ông sao với đèn cá chép Đèn thiên nga với đèn bươm bướm Em rước đèn này đến cung trăng Đèn xanh lơ với đèn tím tím Đèn xanh lam với đenèn trăng trắng Trong ánh đèn rực rỡ muôn màu Tít trên cao dáng tròn xinh xinh soi xuống tran ánh sáng dịu dàng Rằm thắng tám bóng hằng trong sáng Em múa ca vui đón chị Hằng Tùng dinh dinh cắc tùng dinh dinh Tùng dinh dinh cắc tùng dinh dinh Em rước đèn này đến cung trăng Tùng dinh dinh cắc tùng dinh dinh em rước đèn mừng đón chị Hằng Tết Trung thu bánh quà đầy mâm Em bé nhà ưa đúng quây quần Đòi hạt xen bánh dẻo đày nhân Em muốn ăn bốn ,năm ,ba phần Ngọt thơm như bánh dẻo bánh nướng ngọt cay như mứt gừng mứt bí Ăn mát lòng lại thấy vui thêm Hạt dưa nghe cắn nổ lốp đốp Người vui hoan nói cười hấp tấp Bao tấm lòng mừng đón trăng rằm.


2. Ảnh đẹp mùa Trung thu :



   
   


   


   


   


   


   

Tài liệu tham khảo thêm

3. Sự Tích Chú Cuội Cây đa


Ngày xửa ngày xưa, ở một miền núi nọ, có một chàng trai nghèo khổ, cô độc tên là Cuội.  Ngày ngày, chàng phải lên rừng đốn củi, đổi gạo kiếm sống.  Không người thân thích, không họ hàng, tất cả những gì Cuội có chỉ là một chiếc rìu nhỏ.
.
Một hôm như lệ thường, Cuội xách rìu vào rừng sâu tìm cây mà chặt.  Khi vừa được một ôm củi thì Cuội chợt giật mình vì trông thấy một cái hang hổ mé bên kia bờ suối nhỏ.  Nhìn trước nhìn sau chẳng thấy hổ mẹ đâu, chỉ có mấy chú hổ con đang vờn nhau trước cửa hang.  Sợ chúng lớn lên sẽ gây hậu hoạn về sau, Cuội liền nhẹ nhàng băng qua suối, thầm nghĩ trong bụng:
– Bọn hổ con này lớn lên thì phải biết, không chừng chúng vồ cả người chứ chẳng chơi, chi bằng ta diệt trừ chúng ngay bây giờ cho yên.

Thế rồi Cuội bất thần xông đến, vung rìu bổ xuống mỗi con một nhát tựa hồ như sét nổ trên đầu.  Bọn hổ con bất thần bị tấn công, ngã lăn quay ra đất, chết không kịp ngáp.


.
Trong lúc Cuội nhìn quanh thử xem có còn con nào nữa không thì bất ngờ một tiếng gầm khủng khiếp vang lên.  Thì ra vừa lúc đó, hổ mẹ cũng về tới nơi.  Nghe tiếng hổ mẹ gầm sau lưng, Cuội thất kinh hồn vía, tưởng chết đến nơi, cậu chỉ kịp quăng rìu bỏ chạy rồi leo thoăn thoắt lên một ngọn cây cao ở gần đó để thoát thân.  Hổ mẹ lao theo để vồ mồi, nhưng vì không leo cây được nên tức giận gầm thét dưới gốc cây, vang xa cả một góc rừng.  Cuội chỉ biết bám chặt lấy cành cây trên cao, hồn vía bay đi đâu mất cả.
– May mà mình kịp leo lên cây này chứ nếu không thì hổ mẹ xé tan xác rồi.



.
Từ trên cây nhìn xuống, Cuội thấy hổ mẹ lồng lộn trước đàn con đã tắt thở nên cũng thấy xót trong ruột về việc mình làm ban nãy.  Nhưng chỉ một lát sau, hổ mẹ bỗng bỏ con nằm đấy, lẳng lặng chạy đến một cây lạ ở gần đó, ngoạm lấy một nắm lá cây rồi trở về nhai nát, nhả vào vết thương của lũ con mình.  Chẳng mấy chốc, bọn hổ con dần dần cựa quậy, vẫy đuôi, rồi đứng dậy chạy nhảy chơi đùa như cũ.  Cuội bàng hoàng, không ngờ lá cây ấy là thần dược, cứu sống lũ hổ con.
.
Cuội không còn nghi ngờ gì nữa, biết rằng đó chính là cây thuốc thần, nên đợi cho hổ mẹ tha con đi nơi khác, liền leo xuống tìm đến cây thuốc ấy, đào gốc vác về nhà mình.  Ra khỏi rừng, Cuội gặp một ông lão nằm vật trên đường, da mặt xám ngắt.  Cậu đặt cây xuống rồi ghé lại xem, thì ra ông lão đã chết từ lúc nào rồi.

Cuội liền nhanh tay rứt lấy mấy lá cây quý rồi nhai mớm vào miệng ông lão.  Mầu nhiệm làm sao, mớm vừa xong thì ông lão sống dậy, hết lời cám ơn chàng trai cứu mạng và hỏi chuyện.  Cuội thực lòng kể lại cho ông lão nghe tất cả mọi chuyện, từ lúc giết hổ con đến lúc hổ mẹ dùng lá cây cứu sống như thế nào.  Nghe xong, ông lão kêu lên:
– Trời ơi, lão từng nghe nói cây này vốn tên là Cây đa , có phép “cải tử hoàn sinh”.  Lão thật có phúc nên mới gặp con.  Con hãy chăm sóc vun bón cho nó để cứu thiên hạ.  Nhưng nhớ là đừng có tưới bằng nước bẩn mà cây bay lên trời đó.
– Cây bay lên trời à?  Sao lạ vậy ông?
– Ông cũng chẳng hiểu vì sao nữa, nhưng hãy nhớ làm theo lời ông dặn.



.Nói rồi ông lão chống gậy ra đi, còn Cuội thì đem Cây đa về trồng ở góc vườn trước nhà cho tiện việc chăm sóc.  Luôn luôn nhớ lời ông lão dặn, ngày nào Cuội cũng chăm sóc cẩn thận, xách nước tưới cây quý bằng nước giếng trong, khiến cây lớn nhanh như có phép thần thông vậy.
– Đúng đây là Cây đa thần nên cứ mỗi ngày trôi qua, nó lớn mau như là trải qua hằng năm vậy. Thiệt không ngờ!
Cây quý được chăm sóc kỹ nên lớn nhanh, tàn lá xanh tươi bao quanh trước hiên nhà Cuội, trông rất thích mắt.
.
Từ ngày có cây thuốc quý, Cuội cứu sống được rất nhiều người.  Hễ nghe nói có ai vừa nhắm mắt tắt hơi là Cuội mang lá cây tìm tới để cứu chữa.  Cuội chỉ biết lo đi cứu người cho họ sống lại là mừng rồi, dùng phúc của trời mà san sẻ cho thiên hạ.  Cuội không hề biết lấy tiền công của ai, chỉ nhận những lễ vật hoa trái họ biếu tạ cũng đủ cho cậu no lòng qua ngày.

Hết bên đông rồi sang bên tây, đi đâu ai cũng biết là Cuội cứu được rất nhiều sinh mạng.  Tiếng đồn Cuội có phép lạ lan đi khắp nơi.  Một hôm Cuội đi chữa bệnh về, khi lội qua sông, chợt thấy xác một con chó chết trôi.  Cuội chạnh lòng thương vớt lên:
– Ta đem nó về chữa khỏi, rồi nuôi nó cho vui cửa vui nhà.
Nghĩ vậy Cuội ôm chó đem về, hái lá đa đắp lên đầu nó. Chỉ một lát sau, con chó sống dậy, ve vẩy đuôi mừng rỡ.
.

Biết Cuội cứu nó nên nó luôn quấn quýt bên chàng tỏ ý biết ơn.
– Ta đặt tên cho mày là Vện nhé!
Con chó như hiểu được tiếng chủ, sung sướng ngoắt đuôi tỏ ý vui mừng.  Từ ấy, Cuội có thêm con vật tinh khôn làm bạn.
 .
Bấy giờ ở làng bên có một ông phú hộ rất giàu, nhưng chỉ có một cô con gái đã đến tuổi cập kê.  Chẳng may lúc đi dạo, cô bị sẩy chân lọt xuống sông chết đuối.  Cả nhà hay tin liền vớt xác cô đưa về rồi khóc than vô cùng thảm thiết.
.
Hay tin Cuội có phép thần thông, ông phú hộ cùng gia nhân hớt hơ hớt hãi ba chân bốn cẳng chạy đến tìm Cuội, vật nài xin Cuội cứu sống con mình.  Cuội liền nhẹ nhàng bảo:
– Ông bá cứ yên tâm. Tôi chuẩn bị mọi thứ rồi đi ngay đây.
Sau đó, Cuội theo chân phú ông về nhà và đưa lá ra chữa.  Quả nhiên, chỉ một lát sau, mặt cô gái đang tái nhợt bỗng hồng hào hẳn lên.  Rồi nàng mở bừng mắt ra, vươn vai ngồi dậy.  Phú ông xiết bao mừng rỡ kêu lên:
– Ôi, anh quả thật là thần tiên giáng thế, con gái tôi sống lại rồi.
– Xin ông đừng nói thế, tôi chỉ là người thường thôi, chẳng qua là được phúc trời chữa bệnh cứu người – Cuội đáp.
– Anh đã cứu sống con gái thân yêu của ta, trong nhà này anh muốn gì thì cứ việc chọn tùy thích, muốn gì ta cũng cho.
.

Cuội bèn ngỏ ý muốn lấy cô gái mình vừa cứu sống làm vợ.  Lão phú ông nghe thấy vậy càng thích, bằng lòng gả con gái mình cho Cuội.  Biết Cuội là ân nhân của mình, cô gái cũng vui vẻ thuận làm vợ chàng.
.
Và thế là đám cưới hai người diễn ra mau chóng.  Cưới được vợ đẹp và ngoan hiền, Cuội không còn phải sống đơn côi như trước.  Được bố mẹ vợ giúp đỡ, vợ chồng Cuội sửa sang căn nhà lại cho tươm tất.  Hai người sống với nhau thật vui vẻ, thuận hòa và vô cùng êm ấm.
 .
Nhưng Cuội không ngờ, trong vùng có bọn con trai hồi trước vẫn ngấp nghé cô gái của lão phú ông, nay thấy bông hoa thơm tự nhiên lại lọt vào tay anh chàng đốn củi, thì ngấm ngầm ghen tị và cố tìm cách làm hại cho bõ ghét.
.
Một hôm, chờ lúc Cuội lên rừng, chúng xông vào nhà định bắt lấy vợ Cuội. Không ngờ vợ Cuội chống cự quyết liệt nên chúng bèn vung dao giết chết.  Sau khi giết xong, chúng vẫn sợ bị lộ vì biết Cuội có phép chữa cho người ta sống lại, nên chúng lại moi ruột người đàn bà vứt xuống sông rồi mới kéo nhau đi.
Đến chiều, khi Cuội gánh củi trở về thì thấy vợ đã chết lạnh từ bao giờ rồi. Cuội liền bứt lá nhai nát để mớm cho vợ, nhưng mớm bao nhiêu cũng không công hiệu, vì vợ chàng không còn có ruột nữa thì lấy gì thấm thuốc, làm sao sống lại được?!  Cuội ôm lấy vợ khóc lóc thảm thiết.  Con chó thấy chủ đau đớn như vậy liền lại gần, xin hiến bộ ruột của mình thế vào bộ ruột của cô chủ để đền ơn.  Cuội chưa từng làm như thế bao giờ nhưng cũng liều nhắm mắt mượn bộ ruột chó thử cứu vợ mình xem sao…


.Con Vện như hiểu được lòng chủ, nước mắt chảy ra và gật đầu nằm im.  Cuội đau khổ mổ bụng chó lấy bộ lòng đem lắp vào bụng vợ mình:
– Vện ơi, hãy thông cảm cho ta. Ngươi quả là một con vật trung thành, nhưng ta không còn cách nào khác nữa…  Mong cho ngươi được đầu thai kiếp khác sung sướng hơn.
 .
Sau khi lắp ruột chó vào bụng vợ mình xong, Cuội lấy lá đa thần rịt vết thương lại để cứu sống vợ.  Quả nhiên chỉ một lúc sau, vợ Cuội bắt đầu cựa quậy và chợp mắt.
– Ôi, tạ ơn Trời Phật!  Quả đây là cây thuốc thần.  Vợ con sống lại rồi…  Tội nghiệp cho con Vện của ta…
Thương con vật, Cuội liền dùng đất sét nặn thử một bộ ruột rồi đắp vào bụng chó để thế chỗ, sau đó lấy lá thuốc nhai nát rịt vào vết thương.  Không ngờ việc cũng thành, vết mổ mau chóng liền da rồi con Vện tự nhiên đứng dậy, vẫy đuôi liếm vào tay Cuội.
– Rốt cuộc thì mày cũng được cứu sống!  Con Vện trung thành của ta!
.
Vợ với chồng, người với vật từ đấy lại quấn quít hơn trước.
.
Tưởng rằng như thế đã yên, ngờ đâu sau khi sống lại lần thứ hai, tính nết của vợ Cuội có phần thay đổi.  Vì mang trong người bộ ruột chó nên người đàn bà ấy dường như lú ruột lú gan, nói trước quên sau, bảo một đàng làm quàng một nẻo.  Điều đó làm cho Cuội lắm lúc bực cả mình, nhưng vì nghĩ rằng Trời đã cho mình cứu sống vợ lần này nữa là phúc đức lắm rồi, chuyện ngớ nga ngớ ngẩn của vợ thì từ từ cũng sẽ thay đổi thôi.  Ngờ đâu sự việc đã đổi khác, đầu óc vợ Cuội chẳng những không thuyên giảm mà lại ngày càng lú lẩn hơn.


.
Cuội rất lo vì không biết bao nhiêu lần dặn vợ giữ gìn cho cây thuốc quý luôn được sạch: “Có mót thì đi đằng tây, chớ đi đằng đông mà cây dông lên trời”.  Thế mà vợ Cuội nào có nhớ cho những lời dặn quan trọng ấy của chồng.
.
Một buổi chiều, trong lúc Cuội còn đi kiếm củi chưa về, người vợ đang hái rau ở vườn phía đông thấy mót tiểu, bèn chạy vội lại gốc cây quý của chồng vì chỗ đó kín gió, lại không ai trông thấy được.  Cô nàng lú lú lẩn lẩn, chẳng còn nhớ gì đến lời căn dặn của chồng, cứ thế mà vén váy tiểu ngay gốc Cây đa quý kia.
.
Không ngờ sau khi tiểu xong, tự nhiên cả một vùng đất chuyển động, cây cối chung quanh rung lên ầm ầm và những cơn gió không biết ở đâu tụ về, thổi ào ào như thác đổ.  Vợ Cuội hốt hoảng lùi lại, nhưng chỉ một lúc sau, Cây đa quý trước mắt nàng chuyển mình rồi long gốc, bật cả rễ lên trên mặt đất rồi lừng lững bay lên.  Trí óc nàng đã mụ mẫm nên chẳng biết nguyên do vì sao lại như thế, chỉ biết hốt hoảng kêu trời.  Song không còn kịp nữa, Cây đa đã dần dần bay lên trước cặp mắt kinh ngạc của nàng.
.
Giữa khi ấy, Cuội đang trên đường về, tới gần cổng nhà mình thì chứng kiến sự việc trên.  Thoáng thấy cây quý sắp bay mất, lại thêm bên cạnh đó có cả người vợ đang kêu la om sòm, Cuội đoán ngay ra được nguyên nhân:
– Trời ơi, chắc là vợ ta đã không nghe lời dặn, ngớ ngẩn đổ nước dơ vào cây cho nên sự thể mới như thế này…  Cây đa thần của ta ơi, hãy ở lại đây đi!
.
Lập tức Cuội vứt ngay gánh củi, co giò chạy như bay về nhà, nhảy bổ đến toan níu cây lại, nhưng cây lúc ấy đã rời khỏi mặt đất, lên quá đầu người.  Cuội chỉ còn kịp lao đến móc rìu vào rễ cây cốt để kéo cây xuống, nhưng sức người làm sao địch nổi, cây vẫn một mực bốc lên cao, không ai có thể ngăn lại được nữa.

Người vợ chỉ biết giương cặp mắt kinh hoàng đứng nhìn theo một cách bất lực.  Về phần Cuội, do tiếc cây thuốc quý nên cũng nhất định không chịu buông rìu, cứ bám chặt lấy.  Thành ra Cây đa thần kéo cả người Cuội bay lên, bay lên mãi, cuối cùng vượt qua không trung, bay thẳng đến tận trên cung trăng rồi nằm luôn ở đó.
.
Từ đấy, Cuội ở luôn tại cung trăng với Cây đa của mình.  Cho nên mãi tận đến ngày nay, mỗi khi nhìn lên mặt trăng vào những đêm rằm, ta luôn trông thấy bóng ai đó giống như chú Cuội đang ngồi dưới gốc Cây đa quý, rầu rĩ mơ về trần gian.
.
Người ta kể rằng, mỗi năm Cây đa ấy chỉ rụng có mỗi một lá mà thôi.  Ai nhặt được lá cây ấy thì có thể dùng để cứu người chết sống lại.  Song đối với lũ trẻ con, mỗi khi thấy trăng tròn và hình dáng chú Cuội thì chúng chỉ biết hát:
“Bóng trăng trắng ngà, có Cây đa to, có thằng Cuội già, ôm một mối mơ…”


Truyện Cổ Tích Việt Nam
HungLan Design

Theo cổ tục, người Việt trong quá khứ đã từng ăn bánh chưng, bánh dầy vào Tết Nguyên Đán; bánh trôi, bánh chay vào Tết Hàn Thực; rượu nếp, bánh tro, bánh ú Tết Đoan Ngọ; heo quay cúng ngày Rằm Tháng Bảy; bánh dẻo, bánh nướng vào Tết Trung thu ; uống rượu cúc vào tiết Trùng Cửu.




Từ huyền thoại đến biểu tượng 

Tết Trung thu là cái Tết lớn thứ ba trong năm. Về thời điểm, nó tương đương với dịp Tạ Ơn của mùa thu gặt hái trong văn hóa Tây phương, nhưng trên ý nghĩa của triết lý đạo giáo Á Đông, qua hành động thưởng thức vầng trăng thu lớn, vàng và đẹp trong một thời tiết mát mẻ lý tưởng, con người đã cảm thấy mình đã hài hoà một cách tuyệt vời với đất trời vũ trụ.

Từ hình ảnh tròn của vầng trăng, con người thuở xưa đã ký thác tư tưởng của mình thành một biểu tượng: đó là chiếc bánh tròn mà người ta gọi nó là Nguyệt Bính hay Bánh Vầng Trăng. Ngắm trăng thu mà không ăn Nguyệt Bính sẽ là vô nghĩa.

Trên mặt ngôn ngữ, người ta lại liên kết cái ý niệm "Tròn" (viên) của Trăng với cảnh quây quần "đoàn viên" của con người qui tụ ăn mừng để thưởng Trăng. Rồi từ ý niệm này, lại nảy sinh ra huyền thoại ông già dưới trăng "Nguyệt lão" chắp mối tơ hồng để trai gái kết hôn.

Vầng trăng dịu dàng tượng trưng cho nguyên lý Âm, chủ về phụ nữ, nên vào đêm rằm Trung thu , phụ nữ Trung Hoa thường bầy tiệc cúng Trăng với hương đèn và mâm ngũ quả cùng Nguyệt Bính, đặc biệt nếu cúng dưa hấu thì không nên bổ đôi mà phải lấy dao tiả thành hoa sen (vì kiêng cữ ý niệm "phân qua" tức là chia rẽ phân ly). Tục này truyền qua VN ngoài Bắc trở thành tục bày cỗ thưởng nguyệt với bánh mặt trăng và dùng nhiều thứ bánh trái hoa quả trong mùa, đặc biệt phụ nữ trong nhà có dịp trổ tài phụ xảo nữ công bằng cách gọt đu đủ thành các thứ hoa nhuộm phẩm sặc sỡ hay nặn bột thành những con giống như tôm, cua, cá.

Một điểm đặc biệt là trên nắp các hộp bánh Trung thu bán ở thị trường thường vẽ những bức hoạ như Hằng Nga Ngọc Thố Quảng Hàn cung hay Đường Minh Hoàng du Nguyệt Điện để thể hiện những huyền thoại liên quan đến mặt trăng.

Huyền thoại thứ nhất là nhân vật Hằng Nga (còn gọi Thường Nga), vợ của chàng Hậu Nghệ, người có tài bắn cung đã bắn hạ tám vừng mặt trời cho thế gian khỏi nóng như thiêu đốt mà chỉ còn chừa lại một vừng cho con người có ánh sáng ban ngày mà thôi.

alt

Hậu Nghệ được bà Tây Vương Mẫu ban cho viên thuốc trường sinh để sống lâu bảo vệ thế gian. Nhưng Hằng Nga lại lén ăn cắp thuốc này và bay tuốt lên mặt trăng. Trên mặt trăng, Hằng Nga làm bạn với một con thỏ ngọc đứng dưới gốc cây. Không khí trên mặt trăng vốn lạnh buốt nên do đó được gọi là Quảng Hàn cung. Hằng Nga bị lạnh nên phải ho làm viên thuốc trường sinh văng ra khỏi họng. Nàng bèn nghĩ nên lấy viên thuốc này giao cho con thỏ giã nhỏ ra thành bột mà rắc xuống thế gian mà để thiên hạ cũng được trường sinh.
Huyền thoại thứ hai là về vua Đường Minh Hoàng là người rất muốn luyện phép tu tiên. Chính tục lệ treo đèn và bầy cỗ vào đêm rằm tháng Tám vì đó là ngày sinh nhật của ông nên truyền cho thiên hạ khắp nơi phải làm thế để mừng cho ông. Chính vào đêm rằm này, ông ra lệnh cho viên đạo sĩ La Công Viễn làm phép thế nào để ông du hồn lên chơi trên mặt trăng. Truyền thuyết kể rằng đạo sĩ này đã cho ông uống một liều thuốc gì đó rồi nói vua kê đầu vào một cái gối đặc biệt trong một khung cảnh mờ ảo có đốt hương trầm phảng phất. Quả nhiên, nhà vua trong chốc lát thấy hồn mình nhẹ nhàng bay bổng lên vùng Nguyệt Điện rồi chứng kiến một bày tiên nữ lả luớt nhảy múa ca hát trong những bộ xiêm y theo bảy sắc của cầu vồng. Lúc tỉnh dậy, nhà vua bèn nhớ lại bắt chước mà sáng tác ra khúc nhạc Nghê Thường Vũ Y Khúc (Nghê là cái cầu vồng, Thường là cái xiêm váy). Khúc nhạc này rất nổi tiếng và lưu dấu trong thi văn hậu thế và ngộ thay, vua Đường Minh Hoàng đầy nghệ sĩ tính lại được giới nghệ thuật ca vũ Trung Hoa đời sau suy tôn là "Thánh tổ" của nghề nghiệp của họ. (Lấy con mắt hiện đại mà xét, rõ ràng là đạo sĩ La Công Viễn đã cho vua Đường Minh Hoàng dùng tối đa những thứ ma tuý dược qua rượu uống và thuốc sinh ảo giác LSD qua sự ngửi hít khói trầm hương.)

Bánh Trung thu qua lịch sử 


Chưa có tài liệu nào nói về chiếc bánh mặt trăng lúc khởi thủy. Tuy nhiên nếu dựa vào bài Chiêu Hồn ca của Tống Ngọc vào thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên viết để khóc thầy mình là Khuất Nguyên thì chiếc bánh chiên bột gạo luyện mật nhân thịt được kê ra trong danh sách thực phẩm để cúng cũng chưa có thể là chiếc bánh mặt trăng.

alt

Mãi về sau, vào khoảng thế kỷ thứ 6, trong một tài liệu thực phổ, chiếc bánh này được tả là làm bằng bột mì sợi lên men, gần giống như bánh Trung thu bây giờ, nhưng có gì chắc lắm.

Nếu dựa vào thi văn của thi hào Tô Đông Pha thời Bắc Tống (960-1126), thì đã rõ ràng nói đến "chiếc bánh nhỏ tròn như mặt trăng được ăn nhấm nháp, vừa dòn vừa xốp, nhân bằng đường và thịt ngọt."

Như vậy, ta có thể kết luận chiếc bánh Trung thu đầu tiên xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ thứ 6 và thế kỷ 11.

Đến đời Minh (1368- 1643), thì những chiếc bánh Trung thu Nguyệt Bính chắc chắn đã chính thức thịnh hành và còn được gọi là Đoàn Viên Bính.

Giai thoại về cuộc khởi nghĩa đêm Trung thu  


Vào khoảng đầu thế kỷ 14, Trung Quốc bắt đầu chịu sự xâm chiếm và nằm dưới sự cai trị hà khắc của nhà Nguyên. Mông cổ.

Trong bao nhiêu năm, từng nhóm nhỏ người Hán nổi lên chống phá đều bị dẹp tan, mãi đến về sau thì mới có vị lãnh đạo là Chu Nguyên Chương dựng cờ khởi nghĩa. Trong bước đầu, ông chiêu tập binh mã và thu hoạch nhiều chiến thắng, nhưng đến một giai đoạn ông vấp phải một trở ngại rất quan trọng là khó mà chiếm được thành Tô Châu chiến lược để làm đầu cầu then chốt đánh thốc vào Nam Kinh. Chu Nguyên Chương rất buồn phiền nhưng quân sư của ông là Lưu Bá Ôn bèn đưa ra một mưu lược sau:

Lưu Bá Ôn cải trang thành một vị đạo sĩ và lẻn vào nội thành Tô Châu, loan tin đồn rằng Ngọc Hoàng Thượng Đế trên trời sắp cho 5 vị Ôn Thần giáng xuống để gieo tai ương cho dân trong thành. Dân chúng vô cùng hoang mang hoảng hốt. Nhưng vị đạo sĩ giả mạo bèn khuyến dụ người ta muốn tránh tai ương thì tới am cốc của ông mà cúng lễ xin giải nạn trong ba ngày.


Cứ mỗi người đến và ra về đều được đạo sĩ ban cho một chiếc bánh mặt trăng hộ mạng. Đạo sĩ nghiêm trọng căn dặn rằng bánh chỉ được bẻ ra ăn vào đúng tiếng trống đầu tiên của canh ba đêm rằm Tết Trung thu , phải làm đúng như vậy thì mới khỏi tai ương. Vài ngày sau, đúng vào đêm rằm khi tiếng trống canh ba đầu tiên đã điểm, mọi tín đồ của đạo sĩ bẻ bánh ra thì thấy một tờ...

Nguồn gốc và ý nghĩa của Tết Trung thu


Trung thu
" height="223" src="https://tonkinvn.com/upfiles/image/T%E1%BA%BFt%20Trung%20Thu.jpg" style="border: none; display: block; margin: 0px auto; vertical-align: baseline; zoom: 1;" title="Tết Trung thu " width="294" />

Tết Trung thu diễn ra vào ngày 15 của tháng 8 trong Âm Lịch và đã có từ ngàn năm nay, đây là thời gian mặt trăng tròn nhất và sáng nhất, đây cũng là thời gian người Châu Á thu hoạch xong mùa vụ và bắt đầu tổ chức những lễ hội mà tiêu biểu trong đó là lễ hội trăng rằm. Món ăn được người Á Đông lưu tâm nhất trong mùa lễ hội này đó là Bánh Trung thu , với rất nhiều hương vị khác nhau và thường được thưởng thức với trà, thường là trà đặc.

Các sự tích liên quan đến Trung thu - Rằm tháng 8:


Trung thu

thứ 1" height="200" src="https://tonkinvn.com/upfiles/image/S%E1%BB%B1%20t%C3%ADch%20T%E1%BA%BFt%20trung%20thu%20th%E1%BB%A9%201.jpg" style="border: none; display: block; margin: 0px auto; vertical-align: baseline; zoom: 1;" title="Sự tích Tết Trung thu thứ 1" width="268" />


Sự tích Tết Trung thu thứ 1

Hậu Nghệ là một người bất tử, trong khi đó Hằng Nga là một tiên nữ xinh đẹp sống ở Thiên Đình và phục vụ cho Tây Vương Mẫu. Cả hai người là vợ chồng. Sắc đẹp của Hằng Nga và sự bất tử của Hậu Nghệ đã làm cho một số vị thần tiên khác ghanh ghét, và họ đã vu oan một tội lỗi phạm thiên đình cho Hậu Nghệ trước mặt Vua Nghiêu. Từ đó, Hằng Nga và Hậu Nghệ bị đuổi khỏi hoàng cung và phải sống cuộc đời thường dân. Từ đó, cuộc sống làm lụng, săn bắn đã làm cho chàng Hậu Nghệ trở thành một xạ thủ có tiếng trong dân gian.

Bấy giờ, có 10 mặt trời cùng lúc tồn tại, cứ một mặt trời thì chiếu một ngày, và cứ thay phiên như vậy trong vòng một ngày. Tuy nhiên, tai họa ập đến, một ngày kia cả 10 mặt trời cùng xuất hiện trong một ngày và đã thiêu cháy hầu hết sinh linh trên mặt đất. Trước hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” trên, Vua Nghiêu đã sai Hậu Nghệ bắn rơi 9 mặt trời chỉ để một cái lại mà thôi. Chàng Hậu Nghệ đã hoàn thành sứ mạng xuất sắc. Để đáp lại, Vua Nghiêu đã cho chàng một viên thuốc trường sinh bất lão và dặn rằng “Tạm thời không được uống cái này vào, hay bắt đầu cầu nguyện và ăn chay trong một năm sau đó mới được uống”. Hậu Nghệ làm theo, chàng đem viên thuốc về nhà và giấu nó ở cái rui trên nóc nhà và tự khổ luyện tinh thần. Được khoảng nửa năm, Vua Nghiêu mời chàng đến kinh thành “chơi” . Hằng Nga ở nhà thì bỗng lưu ý đến một vật sáng lóng lánh trên mái nhà và phát hiện ra viên linh dược, sau đó, biết là linh dược, nàng đã uống ngay viên thuốc cũng đúng lúc Hậu Nghệ vừa về đến và ngay tức khắc chàng đã biết chuyện gì đã xảy ra. Nhưng tất cả đã quá muộn, Hằng Nga bắt đầu bay về trời.

Với chiếc nỏ trong tay, Hậu Nghệ đuổi theo Hằng Nga. Nhưng đi được đến nửa đường thì thần Gió đã cản chàng lại mặc cho nàng tiên nữ xinh đẹp kia bay đến mặt trăng. Khi vừa đến nơi Hằng Nga bỗng không thở được và viên thuốc bỗng văng ra. Kể từ đó, Hằng Nga mãi ở trên mặt trăng không thể nào trở lại. Truyền thuyết còn kể lại rằng nàng đã kêu gọi những con thỏ ở mặt trăng tạo ra viên thuốc giống như vậy để nàng còn quay về với người chồng ngày đêm mong nhớ, nhưng tất cả đều vô dụng.

Trong khi đó, ở dương thế, sự mong nhớ và nỗi hối hận ngày đêm cồn cào Hậu Nghệ. Cuối cùng, chàng xây một lâu đài trong mặt trời và đặt tên là “Dương”, trong khi đó thì Hằng Nga cũng xây một lâu đài tương tự đặt tên là “Âm”. Cứ mỗi năm một lần, vào ngày rằm tháng 8, hai người được đoàn viên trong niềm hân hoan hạnh phúc. Chính vì thế mà mặt trăng luôn thật tròn và thật sáng vào ngày này như đê nói đến niềm vui, sự hân hoan khi được gặp mặt của con người. 
Đây là tài liệu có trong truyền thuyết Trung Quốc khá phổ biến ở thời Tây Hán (206 TCN – 24 SCN).


Sự tích Tết Trung thu thứ 2



Hậu Nghệ vốn là người phàm trần và là một xạ thủ rất giỏi, chàng đã bắn rơi 9 mặt trời để cứu loài người, nhưng sau đó chàng ta đã trở thành vua Trung Quốc nhưng rồi anh ta trở nên bạo ngược và thi hành những đạo luật khắt khe với nhân dân.
Một ngày kia, Hậu Nghệ đánh cắp một viên thuốc trường sinh bất lão của một vị nữ thần. Tuy nhiên, Vợ Hậu Nghệ, Hằng Nga đã uống nó vì nàng không muốn chồng của mình cứ mãi mãi trở thành một ông vua bạo ngược để nhân dân oán ghét. Và sau khi uống viên linh dược, Hằng Nga đã bay về trời. Vì quá yêu thương Hằng Nga, Hậu Nghệ đã không nỡ bắn rơi mặt trăng giống như chàng đã từng làm với 9 mặt trời trước đó.

Sự tích Tết Trung thu thứ 3


truyền thuyết về hậu nghệ

Một truyền thuyết khác đã cho rằng: Hằng Nga và Hậu Nghệ đều là những vị thần bất tử sống trên thiên đình. Một ngày kia, người con trai thứ 10 của Ngọc Hoàng đã phân thân thành mười mặt trời từ đó gây nên thảm kịch cho loài người. Trước tình hình đó, Hậu Nghệ, với tài bắn tên của mình đã bắn rơi 9 mặt trời nhưng vì tình cảm, đã tha chết cho bản thể thứ 10 của con trai của Ngọc Hoàng. Dĩ nhiên, Ngọc Hoàng không chấp nhận và rất phật ý. Ông ta đã trừng phạt Hậu Nghệ và Hằng Nga bằng cách bắt họ phải sống cuộc đời con người ở trần thế.

Sau khi xuống trần thế, hối tiếc cuộc sống bất tử đã qua, Hậu Nghệ đã bỏ nhà ra đi tìm thứ thuốc có thể trường sinh bất lão. Cuối cùng, chàng tìm thấy Tây Vương Mẫu, bà đã cho Hậu Nghệ linh dược, nhưng dặn rằng: mỗi người chỉ nên uống nửa viên để có được sự sống trường tồn.

Hậu Nghệ đem viên thuốc về nhà và để nó trong một chiếc lọ. Chàng đã cảnh báo Hằng Nga không được mở chiếc lọ ra để xem trong đó có gì và đi săn bắn trong vài tháng. Cũng giống như Pandora trong Thần Thoại Hi Lạp. Sự tò mò đã làm Hằng Nga mở chiệc lọ và tìm thấy viên thuốc, dĩ nhiên nàng đã uống hết viên linh dược mà không biết rằng mỗi người chỉ nên uống nửa viên. Hậu quả thật tai hại, Hằng Nga đã bay về mặt trăng mà không thể cứu vãn được. Kể từ đó cả hai người đã phải sống trong tình cảnh chia lìa, ngăn cách.

Ở Khía cạnh lịch sử, Tết Trung thu được cho là thời điểm kỷ niệm của quân Minh chống lại quân Nguyên vào đầu thế kỷ XIV. Vào thời đó, quân Minh đang nổi dậy chống lại triều đình nhà Nguyên chính vì vậy, việc tụ tập tại những nơi công cộng bị cấm. Thế nên nghĩa quân không thể liên lạc được. Một vị tướng của quân Minh thời đó nhận thấy rằng người Mông Cổ không ăn Bánh Trung thu , chính vì thế ông ta đã mở một tiệm bán bánh và trong mỗi cái bánh là một miếng giấy nhỏ viết rằng: “Giết tất cả bọn Mông Cổ vào ngày 15 tháng 8”. Đêm Trung thu năm đó, quân Minh đã tiêu diệt được quân Nguyên và giành chính quyền. Và sau đó là việc thành lập triều đại Nhà Minh( 1368 – 1644), dưới sự thống lĩnh của hoàng đế Chu Nguyên Chương. Kể từ đó, Bánh Trung thu không chỉ có giá trị ở khía cạnh văn hóa mà nó còn chứa đựng trong nó lòng tự hào dân tộc của người Trung Quốc.
Chính vì những lý do đó, Tết Trung thu trở nên một phần không thể thiếu của nền văn hóa Trung Quốc đến nỗi ngày nay rất nhiều người Trung Quốc đặt tên cho con gái họ là Nguyệt với ước mong con gái họ sẽ xinh đẹp, trong sáng và đầy đặn như mặt trăng vậy.

Tục lệ ăn bánh hình mặt trăng trong dịp Tết Trung thu đã có từ thời Bắc Tống ở Trung Quốc, cách đây trên 1.000 năm.

Trong đêm 15 tháng 8 Âm lịch hằng năm, khi trăng rằm tỏa sáng, lễ tế thần mặt trăng bắt đầu. Trên bàn thờ có hoa quả, có bánh hình mặt trăng còn gọi là bánh "đoàn viên", bởi lẽ, trong dịp này, cả gia đình có dịp đoàn tụ để cùng ăn bánh và cùng thưởng thức ánh trăng thu trong trẻo và bầu không khí ấm áp của đêm rằm đến với mọi nhà.

Đêm Trung thu , các em rước đèn, múa sư tử. Ngoài Bắc gọi là múa sư tử, trong Nam gọi là múa lân. Lân còn gọi là kỳ lân. Kỳ là tên con đực, lân là tên con cái. Lân là con vật đứng thứ hai trong tứ linh: long (rồng), lân, qui (rùa), phụng (phượng hoàng). Lân là con vật thần thoại, thân hươu, móng ngựa, đuôi bò, miệng rộng, mũi to, có một sừng ở ngay giữa trán, lông trên lưng ngũ sắc, lông dưới bụng màu vàng. Tục truyền, lân là con vật hiền lành, chỉ có người tốt mới nhìn thấy nó được.

Thoạt nhìn, đầu lân giống đầu sư tử. Do vậy, người ta gọi múa lân thành múa sư tử.

ở một vài địa phương, có tục các em rước đèn kéo quân trong dịp Tết Trung thu . Đèn kéo quân hình vuông, cao khoảng 80cm, rộng mỗi bề khoảng 50cm. Bốn mặt đều phết giấy Tàu bạch như giấy bóng mờ hiện nay. Phía trên và phía dưới có đường viền sặc sỡ. Bên trong có một tán giấy hình tròn. Khi đốt đèn, hơi lửa bốc lên, tán giấy xoay quanh. Đèn kéo quân còn gọi là đèn chạy quân vì hình đoàn quân cứ liên tục kéo đi, chạy đi không ngừng hết vòng nọ đến vòng kia. Chỉ khi nào đèn hết dầu (nến), đèn tắt thì các tán không quay nữa. Đèn có bốn mặt, hình ảnh xem ở mặt nào cũng được.

Trẻ em rất thích ăn bánh Trung thu , múa lân và rước đèn kéo quân. Từ đó, Tết Trung thu nghiễm nhiên trở thành Tết của các em từ hàng ngàn năm nay.

Sự tích Tết Trung thu thứ 4



Người Việt ta ăn Tết Trung thu vào ngày rằm tháng tám âm lịch là do ta phỏng theo phong tục của người Tàu. Chuyện xưa kể rằng vua Đường Minh Hoàng (713-741 Tây Lịch) dạo chơi vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng tám âm lịch. Trong đêm Trung thu , trăng rất tròn và trong sáng. Trời thật đẹp và không khí mát mẻ. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí lại càng đẹp hơn. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên và du dương với âm thanh ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt trong những xiêm y đủ màu xinh tươi múa hát. Trong giờ phút tuyệt vời ấy nhà vua quên cả trời gần sáng. Đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc.

Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm rằm tháng tám lại ra lệnh cho dân gian tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng trong khi nhà vua cùng với Dương Quí Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Kể từ đó, việc tổ chức rước đèn và bày tiệc trong ngày rằm tháng tám đã trở thành phong tục của dân gian.

Cũng có người cho rằng tục treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám âm lịch là do ở điển tích ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng. Vì ngày rằm tháng tám là ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng nên triều đình nhà Đường đã ra lệnh cho dân chúng khắp nơi trong nước treo đèn và bày tiệc ăn mừng. Từ đó, việc treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám trở thành tục lệ.

Lại có chuyện kể rằng một vị tướng tên là Lưu Tú ở đời nhà Tây Hán, từ năm 206 trước Tây lịch tới năm 23 Tây lịch, trong lúc quân tình khốn quẫn đã cầu Thượng Đế giúp cho quân lính có đồ ăn để chờ quân tiếp viện. Sau khi cầu Thượng Đế, quân lính tìm được khoai môn và bưởi để ăn. Nhờ đó sau này Lưu Tú mới bình định được toàn quốc và lên làm vua tức là vua Quang Võ nhà Hậu Hán. Ngày mà Lưu Tú cầu được linh ứng là ngày rằm tháng tám. Từ đó nhà vua truyền lệnh cứ đến rằm tháng tám là làm lễ tạ trời đất và thưởng trăng bằng khoai môn và bưởi. Ngày lễ trọng thể vui tươi này được gọi là Tết Trung thu . Tục lệ này được truyền sang Việt Nam và đã được người Việt sửa đổi để thích hợp với tính tình và phong tục Việt.

Theo các nhà khảo cổ học thì Tết Trung thu ở Việt Nam có từ thời xa xưa, đã được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Còn theo văn bia chùa Đọi năm 1121 thì từ đời nhà Lý, Tết Trung thu đã được chính thức tổ chức ở kinh thành Thăng Long với các hội đua thuyền, múa rối nước và rước đèn. Đến đời Lê - Trịnh thì Tết Trung thu đã được tổ chức cực kỳ xa hoa trong phủ Chúa. Nghiên cứu về nguồn gốc Tết Trung thu , theo học giả P.Giran (trong Magiet Religion, Paris, 1912) thì từ xa xưa, ở Á Đông người ta đã coi trọng Mặt Trăng và Mặt Trời, coi như một cặp vợ chồng. Họ quan niệm Mặt Trăng chỉ sum họp với Mặt Trời một lần mỗi tháng (vào cuối tuần trăng). Sau đó, từ ánh sáng của chồng, nàng trăng mãn nguyện đi ra và dần dần nhận được ánh dương quang - trở thành trăng non, trăng tròn, để rồi lại đi sang một chu kỳ mới. Do vậy, trăng là âm tính, chỉ về nữ và đời sống vợ chồng. Và ngày Rằm tháng Tám, nàng trăng đẹp nhất, lộng lẫy nhất, nên dân gian làm lễ mở hội ăn Tết mừng trăng. Còn theo sách “Thái Bình hoàn vũ ký” thì: “Người Lạc Việt cứ mùa Thu tháng Tám thì mở hội, trai gái giao duyên, ưng ý nhau thì lấy nhau”. Như vậy, mùa Thu là mùa của thành hôn.

Việt Nam là một nước nông nghiệp nên nhân lúc tháng Tám gieo trồng đã xong, thời tiết dịu đi, là lúc “muôn vật thảnh thơi”, người ta mở hội cầu mùa, ca hát vui chơi Tết Trung thu .

Người Hoa và người Việt đều làm bánh Trung thu để cúng, ăn, biếu thân bằng quyến thuộc, và đãi khách. Điểm chung kế tiếp là người Hoa và người Việt đều tổ chức rước đèn trong đêm Trung thu .

Nguồn tonkinvn.com


Khanhnguyen' s blog tổng hợp
Share:

Social Button


Tổng số lượt xem trang

Khách đang xem trang

Số lượng :

Comments mới nhất

Random Post

Mời bạn ghé thăm

PearLand Nails and Spa

Kết bạn cùng Blog Khanhnguyen

Trang Liên Kết

 
BACK TO TOP