Chương mục lựa chọn

  • Trang chủ
  • Kỹ thuật tin học
  • Mạng Xã hội
  • Tiện ích
  • Truyện hay
  • Site Map
  • Email this page
  • Print Friendly and PDF
  • Hiển thị các bài đăng có nhãn Danh lam thắng cảnh. Hiển thị tất cả bài đăng
    Hiển thị các bài đăng có nhãn Danh lam thắng cảnh. Hiển thị tất cả bài đăng

    Những chuyện tình trên sông Tiêu Tương

    Views:
    NGÀY 27 THÁNG 09, 2014 | 14:06 
    SKĐS - Sông Tiêu Tương uốn lượn như những đài hoa tạo nên vẻ đẹp thơ mộng, kỳ thú.
    Trước kia, sông Tiêu Tương chảy qua đất Kinh Bắc bắt đầu từ một nhánh sông Hồng. Khởi nguồn là cửa sông Đuống, dòng Tiêu Tương chảy tới Phù Lưu, kéo qua Đình Bảng, dọc Tương Giang, rồi Lim, Xuân Ổ... và hòa nhập sông Cầu. Xưa còn có một nhánh chảy về Phật Tích, Tiên Du. Sông Tiêu Tương uốn lượn như những đài hoa tạo nên vẻ đẹp thơ mộng, kỳ thú. Nhưng giờ đây, con sông Tiêu Tương chỉ tồn tại như một dòng sông huyền thoại với những chuyện tình bất tử cùng những làn điệu dân ca quan họ xao xuyến lòng người.
    1-Khối tình Trương Chi
    Đến bất cứ một khúc sông Tiêu Tương còn sót lại, chạy dọc con đường quốc lộ A1 cũ, bao giờ cũng lung linh vẻ đẹp huyền ảo của câu chuyện nàng Mỵ Nương rơi lệ xuống chén ngọc. Nàng nhớ tiếng hát của Trương Chi, cùng với tình yêu say đắm của chàng đã đi xuống tuyền đài. Khi tôi đi dọc đoạn sông còn sót lại, chạy dọc con đường làng Đình Bảng ra tới đền Bát Đế vẫn còn nghe một bà bán bánh đa vừng kể chuyện như hát lại bi tình sử này: “Ngày xưa có anh Trương Chi. Người thì thậm xấu, hát thì thậm hay. Cô Mỵ Nương ở Lầu Tây. Con quan thừa tướng ngày ngày cấm cung. Trường Chi chở đò ngoài sông. Cất lên tiếng hát động lòng Mỵ Nương...”. Thế rồi bà dẫn tôi ra tận một cổng sông ở kề xóm Bà La, Đình Bảng và kể rằng, người ta đã vớt xác Trương Chi lên ở đây, nhưng chỉ còn lại trái tim đã kết lại thành một khối ngọc trong vắt.
    Khúc sông Tiêu Tương còn sót lại.
    Trương Chi chết đi vì sự đau khổ tột cùng của tình yêu. Còn Mỵ Nương lại mất đi tiếng hát của Trương Chi, một khối tình sầu cảm làm rung động tâm hồn nàng. Đó là khối tình trong mộng với vẻ đẹp của giọng hát làm say đắm con tim Mỵ Nương. Mất nó, nàng còn đau khổ hơn. Trái tim chan chứa tình yêu của chàng đã hóa ngọc để ban đến cho nàng một vẻ đẹp thuần khiết nhất. Hình ảnh chàng lái đò và tiếng hát trong trẻo ngọt ngào lại vang lên từ trong lòng chén ngọc được đúc lên từ trái tim chàng. Và khi giọt nước mắt nhớ thương của nàng rớt xuống làm chén ngọc tan biến, đó cũng là lúc giọt tình đã được trao. Trương Chi chàng đã thoát vào cõi hư vô với tình thương yêu của nàng Mỵ Nương.
    Người dân Kinh Bắc tự hào nói tiếng hát của chàng Trương Chi giờ đã được cha ông truyền lại muôn đời qua các làn điệu dân ca quan họ. Người ta còn kể, Lầu Tây nơi mà Mỵ Nương ngồi bên sông Tiêu Tương chảy qua là đồi Hồng Vân (Lim). Phải chăng để chia sẻ mối tình bi thảm ấy mà hàng năm, cứ đến ngày 13 tháng Giêng, trai gái khắp vùng về đây trẩy hội và hát giao duyên. Và cũng chính vì thế, hầu hết trong nhiều lời ca và giai điệu quan họ bao giờ cũng phảng phất nỗi buồn, nhất là những bài về tình yêu giữa liền anh và liền chị. Và thường họ chẳng mấy khi nên duyên vợ chồng. Hẹn thế đấy nhưng rồi mùa hội nào cũng vậy, cho dù có níu giữ, cho dù có dan díu nhưng rồi lại hẹn đến xuân sau.
    Khi đến đây, tôi lại chợt nhớ đến trường ca Trương Chi của cố nhạc sĩ Văn Cao vẫn vẳng bên tai từ hồi thơ bé. Bố tôi hát nghe buồn đến rụng rời con tim, khi đến đoạn: “Đò trăng giữa dòng sông vắng. Gió đưa câu ca về đâu? Nhìn xuống đáy nước sông sâu. Tuyền anh đã chìm đâu. Thương khúc nhạc xa vời...”. Sau này, còn hàng chục nhạc sĩ khác cũng đã từng về đây để sáng tác với những cảm xúc sâu sắc và chia sẻ cùng nỗi đau muôn thuở, tình nghệ sĩ nghèo. Có lẽ vậy bởi nhạc sĩ Văn Cao lúc sinh thời đã nói mình chính là Trương Chi đó mà...
    2-Một mối tình bí ẩn vĩ đại
    Gần đây, tôi trở lại chùa Tiêu, đứng trên núi Tiêu nhìn xuống dòng sông Tiêu Tương xưa vì nghe nói nơi này không hề có hòm công đức. Đó là chuyện hiếm hoi từ xưa tới nay. Thật sự ngạc nhiên, nếu không nói đây là chùa cổ duy nhất và cũng là một trung tâm phật giáo từ lâu đời ở xã Tương Giang, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh không đặt hòm công đức bao giờ. Thậm chí các ni sư ở đây thường hái thị chín trên cây đem ra chợ làng bán để phụ thêm tiền sắm hương lễ. Hiện ở chùa có mấy cây thị cổ rất lớn, quanh năm xanh tốt và đậu quả thơm lừng. Nghe cũng ngỡ như chuyện cổ tích thời nay vậy. Khó tin nhưng có thật.
    Các nhà sư chùa Tiêu.
    Nhưng nghe cô bán nước ngay chân chùa kể chuyện thì câu chuyện tình của mẹ vua Lý Thái Tổ bên sông Tiêu Tương này mới thấy còn bí ẩn hơn câu chuyện giữa Trương Chi và Mỵ Nương. Nhìn về phía xa, con hồ trước mặt chính là một khúc sông Tiêu Tương chảy qua chân núi, cô gái kể... “Vào khoảng năm 959, chùa Tiêu do thiền sư Lý Vạn Hạnh, người làng Đình Bảng chủ trì. Khi đó, ngài mới 21 tuổi, xuất gia tu học ở chùa Lục Tổ nhưng đã tinh thông phật pháp và binh pháp vì được rèn luyện, học tập từ nhỏ. Ngài còn có người em trai là Lý Khánh Văn cũng trụ trì ở chùa Cổ Pháp (còn gọi là chùa Dận) cách đây một chuyến đò cùng bên kia bờ sông Tiêu Tương.
    Một hôm, có người đàn bà ôm đứa con trai mới đẻ đến đặt ở cửa tam quan chùa Cổ Pháp rồi bỏ đi. Thiền sư Lý Khánh Văn nghe thấy tiếng trẻ khóc, thấy xót lòng bèn bế vào chùa nuôi nấng và đặt tên là Lý Công Uẩn. Đó là vào năm 974. Thời gian trôi đi, Lý Công Uẩn lớn lên khỏe mạnh và tỏ ra có khí chất khác thường, học hành sáng dạ. Khi đến 5 tuổi, Lý Công Uẩn được cha nuôi đưa sang chùa Tiêu Tương để học thầy trụ trì chùa Tiêu là Lý Vạn Hạnh. Từ đó, sự nghiệp của Lý Công Uẩn được thiền sư Lý Vạn Hạnh gây dựng cho đến mấy chục năm sau trở thành vị vua đầu triều nhà Lý, lấy niên hiệu là Thuận Thiên và danh xưng là Lý Thái Tổ, lên ngôi năm 1009.
    Nhưng trong suốt những năm tháng ấy, câu chuyện về người mẹ sinh một đứa con hoang trở thành một ông vua được bàn dân thiên hạ khắp nơi tò mò. Cha của vua là ai? Vì sao người mẹ lại phải bế đến chùa. Có chuyện tình oan trái hay cay đắng gì đây. Sau này người ta xác định được người đàn bà ấy chính là Phạm Thị Ngà, người ở Dương Lôi. Nhưng người chồng hay người tình phản bội kia là ai vậy? Thực ra dân tình cũng đã bàn đến chuyện người con bị bỏ ở chùa Cổ Pháp. Chuyện kể người đàn bà họ Phạm kia có thời gian làm việc ở chùa và đã quan hệ gần gũi, thân thiết với sư thầy. Khi thấy người con gái có thai, thầy bèn đuổi đi. Nhưng đến ngày sinh nở, người mẹ đã trả lại con cho nhà chùa. Họ còn đặt vè trong dân gian thế này: “Con ai đem bỏ chùa này. Nam mô di phật con thầy, thầy nuôi”.

    Hai cây thị cổ ở chùa Tiêu
    Lại có chuyện kể, người cha của đứa bé là một người làm thuê ở chùa Tiên Sơn và đã gặp người con gái xinh đẹp làng Dương Lôi. Hai người có lòng yêu mến nhau. Khi người con gái có mang thì người làm thuê kia bị đuổi ra khỏi chùa. Cả hai dắt díu nhau vào rừng, không có nơi ăn chốn ở và đói khát cùng đường. Người chồng đã uống phải nước giếng độc, bị chết trong rừng. Lúc đó, người vợ chỉ còn một con đường đến ăn mày cửa phật. Sau khi sinh con xong, để lại cho nhà chùa nuôi, người mẹ đã ra đi. Chuyện này còn được thêu dệt lên cùng những tình tiết huyền tích khác như trong một đêm nằm ngủ, thiền sư Lý Khánh Văn thấy mộng báo, sáng mai hãy đón hoàng đế đến chùa. Khi thiền sư ra chỉ thấy một người đàn bà sắp đẻ nên cưu mang giúp đỡ. Và người con được sinh ra sau này chính là vua Lý Thái Tổ.
    Nhưng có lẽ còn ly kỳ hơn khi có chuyện kể chính thiền sư Lý Vạn Hạnh mới là cha đẻ thực sự của vua Lý Thái Tổ. Trước đó, khi xảy ra chuyện, ngài đã nhờ Lý Khánh Văn gánh vác hộ, nhận đứa bé làm con nuôi để lấy họ Lý. Chính vì thế mà Lý Vạn Hạnh đã dồn toàn bộ tâm trí và tài năng để dạy dỗ, tạo dựng nghiệp lớn cho con trai tiếp nối lý tưởng trị vì thiên hạ của mình. Thiền sư còn tạo dựng những thế lực trong triều Tiền Lê cùng những lời sấm truyền trong dân gian để chớp thời cơ cho Lý Công Uẩn đoạt ngôi vua như mệnh trời sắp đặt. Và có thể nói, triều họ Lý chính do một tay ông dựng lên. Thậm chí, chuyện vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thành Thăng Long năm 1010 cũng bắt đầu từ ý tưởng của Lý Vạn Hạnh. Hơn nữa, sau này, vua Lý Thái Tổ đã về quê nội ở Đình Bảng để chọn đất thờ và trở thành lăng mộ hiện nay ở đền Bát Đế lại càng thêm khẳng định cha ngài chính là Sư Tổ Lý Vạn Hạnh!?
    3-Ghi trên đỉnh núi Tiêu
    Tôi cứ mơ màng trong câu ca xưa từ đâu đó trên không trung cất lên: “Con trời chẳng biết mặt cha. Lớn lên trung dũng tài ba khác thường. Ai về bên bến sông Tương. Chớ gần cô tiểu mà vương phải bùa”. Và một buổi sớm tôi lên núi đúng vào giờ tụng kinh của các sư chùa Tiêu. Được một ni sư chỉ đường lên đỉnh cao, ở đó có tượng Sư Tổ Vạn Hạnh bằng đá trắng sừng sững trên trời xanh. Tôi chậm bước lên từng bậc đá và chợt nghĩ trong cái hiện hữu lại có cái hư vô đến lạ kỳ. Sắc sắc không không là vậy. Tình yêu là suối nguồn của sức mạnh luôn luôn hiện hữu và vô hình ở khắp mọi nơi trên thế gian này. Việc một người đàn bà thử ướm chân vào vết chân thần ở ngoài vườn mà sinh ra Thánh Gióng quả là chuyện tình kỳ ảo và hiện hữu bao la. Bao đời nay, người đời tôn thờ và tưởng nhớ đến: “Ai ơi mùng chín tháng tư. Không đi hội Gióng cũng hư mất đời”. Cái vô thường nghĩ cho cùng lại là hữu hạn tự ở con người. Mối tình kia đã hóa về trời. Con trời đã được trao cho kiếp làm người trên trần thế để đem lại hạnh phúc cho chúng sinh. Đó là nút kết của câu chuyện tình bí ẩn nhất, vĩ đại nhất của kho tàng cổ tích trên dòng sông Tiêu Tương.
    Ghi chép: Cảnh Linh
    Nguồn Trang Sức khỏe & Đời sống Online

    Ngôi chùa có hàng ngàn chú chim tìm về

    Views:

    06/03/2017 9:15 Chiều

    Ở đó có một ngôi chùa với diện tích không lớn nhưng lại là nơi tụ về của rất nhiều loài chim di trú, khiến không gian chùa giống như một ốc đảo xanh, là nơi bảo tồn cuộc sống của nhiều loài chim.

    Đó là chùa Hang ở khóm 4, thị trấn Châu Thành (huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh). Đường từ thành phố trẻ Trà Vinh đến chùa chỉ dài khoảng năm cây số, qua cống ngăn mặn Tầm Phương đã thấy rừng sao dầu xanh thẫm bên tay trái. Chùa Hang là một ngôi chùa nổi tiếng trong số 141 ngôi chùa Khmer của tỉnh Trà Vinh, nơi mà bầy chim di trú tìm về.
    Rất nhiều bầy chim di trú tìm về. 
    Là ngôi chùa theo hệ phái Nam tông, tên chữ Phạn chính thức của chùa là Kompongnigrodha, được xây dựng đã hơn 370 năm. Chùa nằm bao quanh bởi làng mạc, ruộng vườn, rợp xanh bóng cây, tách biệt hẳn với cái ồn ào đô thị. Đi qua “hang cổng”, có cảm giác không khí mát lạnh bao trùm khắp nơi. Không khí này có được nhờ bóng mát của vô số cây sao dầu có tuổi thọ hàng trăm năm trên diện tích khoảng chục hecta của chùa. Đi trên con đường rợp mát bóng cây và không khí thanh sạch, bao nhiêu bụi trần hầu như tan biến, khiến lòng khách phương xa bâng khuâng cảm khái mùi thiền. Trong khung cảnh thiên nhiên đó có một vườn chim rộng đến hơn 1 mẫu đất với nhiều loài chim di trú phương nam như cò, diệc, cồng cộc. Mùi thiền như còn tỏa ra từ những ngọn sao dầu và me cổ thụ trong tiếng kêu vang động khắp nơi của lũ chim đậu trên ngọn cây.
    Sư cả trụ trì chùa Hang cho biết, trước kia chùa có đàn dơi quạ “đông không kể xiết”. Nhưng vào năm Mậu Thân (1968), một quả bom rơi trúng chùa khiến đàn dơi tản đi biệt tăm cho đến giờ. Ngày nay, chùa chỉ còn đàn cò, diệc, cồng cộc cư trú. Mỗi sáng, lúc bình minh sắp ló dạng, đàn chim bay đi khắp nơi kiếm ăn. Chiều tối, chúng lại tụ họp về chùa, chuyện trò rất vui tai. Là người từ khi về trụ trì ngôi chùa này, Sư cả Thạch Xuồng đã yêu chim từ hồi còn nhỏ. Sư Thạch Xuồng cho biết, hồi những năm 90 của thế kỷ trước, các loài chim chóc: sáo, hoành hoạch, chèo bẻo, cu cườm, cò, diệc, cồng cộc… thường về ở, kiếm ăn. Mùa đông có cả loài chim di cư có tên là cu gầm gì to như con gà mái có bộ lông màu xanh lá chuối rất đẹp từ trên núi bay về tránh bão…
    Chim tìm về sân chùa Hang, khiến khung cảnh càng trở nên thanh bình. 
    Trong chùa, ngoài việc học tập Phật pháp, tham gia lớp học điêu khắc, các sư ở đây đều góp công sức trong việc gầy dựng và chăm sóc vườn chim trong chùa gần 30 năm qua. Sư Lý Thảo bộc bạch rằng thời gian đầu, nhiều phật tử tỏ ý không hài lòng với việc nuôi chim trong chùa vì chúng thường đậu trên cây và phóng uế xuống phía dưới trúng vào bà con phật tử gây sự khó chịu. Nhưng ngoài thời gian kinh kệ và những công việc khác liên quan đến nhà chùa, thì mỗi sáng, mỗi chiều nhìn chúng múa, nghe chúng kêu, hót; tự tay chăm sóc nâng niu từng con một… các sư nơi đây thấy lòng mình thanh thản và tinh khiết hơn. Mà đất có lành chim mới đậu chứ!” Sư Lý Thảo cười bộc bạch.
    Đến với chùa hang, ngoài việc vãn cảnh và lễ chùa, cảm giác của nhiều người là sự bình yên. Nhiều người đã vô cùng ngạc nhiên khi thấy ngay ở trong sân chùa, sao lại có thể nhiều chim đến như thế! Chim ở đủ mọi nơi. Chim trên các mái, chim trên dây điện, chim trên cây, chim trên sân… Ngay cả phía ngoài cổng chùa trên đường phố đông đúc người xe, từng đàn chim vẫn đỗ đầy trên vỉa hè. Người đi lại, cứ đi, mải miết hay thong dong ở giữa, còn phần sát với đường phố tấp nập xe chạy, quanh những gốc cây, chim vẫn điềm nhiên mổ hạt, vẫy cánh, rỉa lông. Chỉ khi có người đến gần, chúng mới tung cánh, bay cao như nhường đường rồi lại điềm nhiên hạ xuống cách đó không xa…
    Nhiều chim đậu trên cây ở chùa. 
    Trời đang nắng, dưới bóng râm những tán cây, tự nhiên thấy rợp bóng chim khi một đàn chim chắc khoảng mấy trăm con đồng loạt tung cánh. Chim không của ai cả, nhưng là của tất cả mọi người. Các sư ở đây cũng thường xuyên ném thức ăn cho chim. Những thức ăn này là của những người vô danh dành cho chim. Sư Lý Thảo bảo ở đây, có nhiều người nấu những nồi cơm to đứng bên đường cúng dường cho các nhà sư đi khất thực bằng tấm lòng trân trọng cung kính vào mỗi sáng sớm thì cũng vào lúc ấy, cũng có những người, lo cái ăn cho chim. Có lẽ, lòng người khi rộng mở, thì cũng là lúc chim tụ về, sống bình yên và hài hòa như thế.
    Minh Ngọc
    Theo phununews.vn

    Măng Đen - vùng đất bảy hồ ba thác ở Kon Tum

    Views:
    Thứ bảy, 25/7/2015 | 14:05 GMT+7

    Măng Đen là một thị trấn thuộc huyện Kon Plong, tỉnh Kon Tum, có rừng nguyên sinh và nhiều hồ, thác nước. Khí hậu nơi đây mát mẻ trong lành, thích hợp cho du khách tránh nắng mùa hè.

    Đến với Măng Đen bạn sẽ được đi trên con đường quanh co, hai bên là những rặng thông xanh ngắt, thoang thoảng mùi nhựa thông. Văng vẳng là tiếng chim hót líu lo, khí hậu mát lành mang nét hoang sơ, hùng vĩ của núi rừng. Chính vì vậy mà Măng Đen được khách du lịch yêu mến gọi là Đà Lạt của Kon Tum.
    Mọi người còn gọi đây là mảnh đất “bảy hồ, ba thác” gắn liền với truyền thuyết thần Pling tạo ra nơi này như thế nào. Bảy hồ nước đó là: Toong Ly Leng, Toong Ziu, Toong Zơ Ri, Toong Săng, Toong Pô, Toong Đam và Đak Ke. Và ba ngọn thác là thác Pa Sỹ, Đak Ke và Đak Pne.
    Tới đây du khách được dịp thỏa thích tham quan, tản bộ quanh các hồ nước thơ mộng, thưởng thức các món ăn đậm đà hương vị núi rừng Tây Nguyên.
    Thac-PaSi-4419-1437549383.jpg
    Thác Pa Sỹ ở thị trấn Măng Đen. Ảnh: Phương Thuy Thủy.
    Thời điểm tham quan
    Khoảng tháng 4, 5 là thời điểm tuyệt vời để đi du lịch Măng Đen. Khí hậu se lạnh nhưng các loại hoa rừng, lan rừng, hoa sim bắt đầu khoe sắc. Rừng thông xung quanh trải một lớp thảm xanh dày mượt như nhung.
    Khoảng tháng 10 đến 12 thì Măng Đen lại khoác một chiếc áo vàng ươm của màu lúa chín thoai thoải dọc theo các sườn núi. Trên đường đến đây, bạn sẽ có cảm giác đang đi dọc vùng Tây Bắc mùa lúa chín.

    Bạn có thể tham khảo thêm bài: 
    Phương tiện di chuyển
    Kon Tum không có sân bay cho du khách nên nếu muốn tới đây bằng máy bay, bạn phải đặt vé tới sân bay Pleiku, cách Kon Tum 50 km. Tuy nhiện hiện nay sân bay Pleiku tạm ngưng hoạt động để nâng cấp. Du khách chỉ còn cách đi xe khách.
    Từ Hà Nội: bạn có thể chọn các nhà xe Đăng Khoa, Việt Tân... với giá 600.000 đồng
    Từ TP.HCM: bạn đi các nhà xe Minh Quốc, Việt Tân Phát, HTX vận tải cơ giới HHHK Tây Nguyên, HTX XKLT du lịch và dịch vụ Thống Nhất (TP HCM), Long Vân... Giá ghế ngồi khoảng 250.000 đồng, vé giường nằm khoảng 320.000 đồng.
    Từ Đà Nẵng: Xe Mai Linh, Việt Tân, Hoàng Long... giá 200.000 - 290.000 đồng
    Di chuyển tới Măng Đen

    Cau-treo-Kon-K-lor-cay-cau-day-9473-7091
    Cầu treo Kon K’lor, cây cầu dây văng lớn nhất ở khu vực này nối liền hai bờ sông Đak Blar. Đây cũng là điểm không thể bỏ qua nếu du khách đã đặt chân tới Kon Tum. Ảnh: Phương Thu Thủy.
    Đến Kon Tum các bạn đi theo đường 24 về phía Đông khoảng 50 km là Khu Du lịch Sinh thái Măng Đen. Bạn có thể thuê xe máy, ô tô hoặc taxi.
    Taxi: Ở Kon Tum có các hãng taxi uy tín như Mai Linh hay Vinh Sơn.
    Ô tô: Đi nhóm đông người bạn có thể thuê nguyên chiếc ô tô cùng người lái hoặc bạn tự lái.
    Xe máy: Thuê xe máy với giá khoảng 150.000 đồng/ ngày.
    Lưu trú
    Ở lại Măng Đen các bạn nên thuê một căn biệt thự nằm khuất trong rừng thông của khách sạn. Một số điểm thường được du khách chọn là khách sạn Hoa Hồng, trung tâm tổ chức hội nghị Lan Rừng, khách sạn Đồi Thông hay biệt thự Hoa Sim. Giá một đêm nghỉ vào khoảng 220.000 đồng phòng đơn, 280.000 đồng phòng đôi, 350.000 đồng phòng ba và 400.000 đồng phòng vip. Hoặc khách sạn Trung Hiếu có giá rẻ hơn là 200.000 đồng cho phòng đôi và 150.000 đồng một phòng đơn.
    Ẩm thực
    Cơm Lam: Đây là món ăn khá phổ biến của hầu hết đồng bào dân tộc Tây Nguyên nhưng mỗi địa phương đều mang một sắc thái, hương vị khác nhau. Cơm Lam vùng Kon Plong được nấu từ gạo nếp rẫy ngâm lẫn với lá dứa nên có vị thơm, chắc mà lại dẻo, bùi mà không cứng, ăn không biết ngán.
    ga-nuong-mang-den-1689-1437549383.jpg
    Cơm lam và thịt gà nướng Măng Đen là đặc sản nổi tiếng của vùng. Ảnh:samtuoingoclinh.
    Heo quay Măng Đen: heo được thuần hóa và nuôi dưỡng bằng nguồn thức ăn phong phú, tự nhiên của núi rừng nên thịt rất săn chắc, nhiều chất dinh dưỡng. Người dân ở đây vẫn dùng bếp lửa bằng than để quay thịt heo nên rất thơm và giòn.
    Cá tầm Măng Đen: có lẽ bởi khí hậu trong lành, quanh năm mát lạnh mà cá Tầm ở đây ngọt hơn các vùng khác. Du khách có thể yêu cầu nhà hàng làm các món nướng, lẩu hay bất cứ món nào hợp khẩu vị của bạn.
    Gà nướng Măng Đen: món ăn này đã được ghi nhận trong danh sách 50 món ngon nên thử trong sách kỷ lục Guinness Việt Nam. Thịt được tẩm ướp gia vị từ một số loài rễ, lá, mật ong và cây rừng Kon Tum nên gà nướng mang hương vị đặc biệt. Khi thưởng thức bạn nên chấm thêm muối tiêu hoặc muối hột lớn với ớt cay cay hay lá bét (một loại lá rừng ngọt với vị béo ngậy).
    Rượu cần: thức uống này là nét đặc trưng của đồng bào dân tộc Tây Nguyên nói chung và Kon Plong nói riêng. Uống rượu cần là một nét sinh hoạt văn hóa không thể thiếu của đời sống cũng như phản ánh sinh động văn hóa vật chất và tinh thần xưa và nay. Với mùi thơm của gạo, hòa quyện với nước suối trong vắt, tạo nên một vị cay nồng nàn.
    Ngoài ra, Măng Đen còn có các món dân dã khác như cà đắng, măng chua rừng, các loại rau rừng, bắp chuối rừng, thịt trâu nướng, thịt trâu khô…
    Phương Thu Thủy
    Nguồn VnExpress.net

    Giới thiệu về kênh đào Panama Lịch sử kênh đào

    Views:

    Giới thiệu về kênh đào Panama

    Xem tài liệu


    Năm 1502 Cristobal Colon đến Panama. Tám năm sau, vào năm 1510, thực dân Tây Ban Nha bắt đầu đô hộ Panama. Vào lúc đó, việc làm một con đường qua Panama là rất có lợi cho việc vận chuyển hàng hoá từ các thuộc địa Nam Mỹ về mẫu quốc. Chính vì vậy, vào năm 1534 Vua Carlos V đã ra lệnh thực hiện những nghiên cứu đầu tiên về địa hình để xây dựng một kênh đào dài 80 km tại Panama. Tuy nhiên, việc xây dựng công trình này đã vượt quá khả năng của thời kỳ đó.
    Hơn 3 thế kỷ sau, bá tước người Pháp Ferdinand de Lesseps, người xây kênh đào Suez từ năm 1859 đến 1869, đã lập Công ty Quốc tế Kênh đào liên đại dương Panama với mục tiêu xây dựng kênh đào tại Panama. Năm 1880, bá tước Lesseps khởi công công trình, bán ngân phiếu và cổ phần để huy động vốn. Tuy nhiên, việc xây dựng kênh đào gặp nhiều trở ngại về địa hình, khí hậu cũng như những thiếu sót trong quản lý dẫn đến phá sản về tài chính vào năm 1889.
    Năm 1894, Tân Công ty Kênh đào Panama của Pháp được thành lập để tiếp tục các nỗ lực của Lesseps. Một ủy ban kỹ thuật đã nghiên cứu các đặc điểm địa hình, địa chất, thuỷ văn của Panama và đề xuất xây dựng kênh đào theo các cửa để có thể kiểm soát được mực nước dâng của hồ Chagres và giảm số lượng các hố đào trong công đoạn xây dựng. Lần cố gắng thứ hai này cũng không thành công. Thiếu sự giúp đỡ về tài chính của chính phủ và tư nhân, hết vốn, các đại diện của Tân Công ty của kênh đào Panama buộc phải bán lại cho chính phủ Mỹ quyền sở hữu và xây dựng kênh đào vào năm 1904 với giá 40 triệu đô la.
    Năm 1903, Panama sau khi giành độc lập từ Colombia đã ký hiệp định Hay-Bunau Varilla, qua đó, Panama đồng ý để cho Mỹ thực hiện việc xây dựng một kênh đào liên đại dương đi qua Panama. Người Mỹ tiếp tục công trình vào năm 1904 với lực lượng lao động hơn 75 nghìn người và đầu tư tài chính 400 triệu đô la. Cũng như với người Pháp, công trình tiếp tục gặp phải nhiều khó khăn: công nhân mắc bệnh nhiệt đới, công trình bị sụt lở liên tục, nhiều hố đào phức tạp, các cửa kênh đào kích cỡ lớn, nhập nguyên liệu, tổ chức và đào tạo nhân công khó khăn... Tuy nhiên, các trở ngại dần được tháo gỡ. Thượng tá William Crawford Gorgas và nhóm bác sĩ của ông đã triệt tận gốc bệnh sốt vàng da và khống chế được bệnh sốt rét. Kỹ sư trưởng John F. Stevens và cộng sự đã thành lập được hệ thống cung ứng và tổ chức được một hệ thống đường sắt để vận chuyển nguyên liệu đá được đào lên từ các hố đào. Thượng tá George Washington Goethals chỉ huy đào đoạn cắt Culebra, thiết kế những bản vẽ cuối cùng và xây dựng các cửa kênh của đập nước Gatun hiện nay.
    Kênh đào Panama khánh thành ngày 15 tháng 8 năm 1914, nằm dưới sự quản lý và vận hành của chính phủ Mỹ. Một chương trình bảo dưỡng nâng cấp cơ sở hạ tầng nghiêm ngặt được lập ra để giữ cho kênh đào trong điều kiện hoạt động tốt nhất.
    Năm 1977, Panama và Mỹ ký hiệp định Torrijos-Carter, quy định lộ trình huỷ bỏ Khu vực kênh đào đặc quyền của Mỹ, tăng nhân lực Panama vào việc quản lý kênh đào và chuyển nhượng dần kênh đào cho Panama. Thực hiện hiệp định Torrijos-Carter, Panama đã tiếp quản hoàn toàn kênh đào vào 12 giờ trưa ngày 31 tháng 12 năm 1999.
    Theo Điều luật 19 ngày 11 tháng 7 năm 1997, Ban quản lý Kênh đào Panama (ACP) là cơ quan trực thuộc chính phủ Panama, chỉ đạo bởi một Giám đốc và một Phó Giám đốc dưới sự kiểm soát của Hội đồng quản trị gồm 11 người. ACP chịu trách nhiệm quản lý, vận hành, bảo dưỡng, nâng cấp và hiện đại hoá kênh đào, cũng như các hoạt động và dịch vụ kết nối với mục đích bảo đảm hoạt động an toàn, liên tục, có hiệu quả và đem lại lãi suất.





    Kênh đào Panama dài 80km nối liền Đại tây dương và Thái bình dương, đi xuyên qua một trong những địa điểm hẹp nhất của dải đất Trung Mỹ, nơi thấp nhất của dãy núi chính nối liền Bắc và Nam Mỹ. Một con tàu trung bình sẽ mất khoảng 8 đến 10 giờ để đi qua kênh. Trong thời gian đó, hành khách có cơ hội để quan sát quy trình hoạt động của một trong những kỳ quan của kiến trúc hiện đại.
    Kênh đào được cấu thành bởi các bộ phận chính: Hồ Gatun, đoạn cắt Culebra và ba bộ âu tàu: Miraflores và Pedro Miguel ở phía Thái Bình dương, Gatun ở phía Đại Tây dương.
    Hồ Gatun là hồ nhân tạo trải rộng 423km vuông, là nơi tàu thuyền đi qua 37.8km từ cửa kênh Gatun đến mỏm phía Bắc của đoạn cắt Culebra.  Hồ được tạo ra bằng việc xây dựng âu tàu Gatun trên dòng chảy của sông Chagres. Để tăng khả năng tích trữ của hồ Gatun và khả năng hoạt động của kênh đào, tháng 3 năm 2002, Ban quản lý kênh đào Panama bắt đầu tiến hành đào sâu thêm đường đi của tàu thuyền và nâng khả năng cung cấp nước của kênh đến hơn 300 triệu galông mỗi ngày.
    Đoạn cắt Culebra dài 13.7km, là một công trình được đào phần lớn trên nền đá rắn và chất liệu cứng. Ban đầu, nhánh sông được đào với 92m chiều rộng, đến tháng 11 năm 2001 được mở rộng ra 192m ở đoạn thẳng và 222m ở đoạn cong, đủ để lưu thông 2 tàu cỡ rộng, loại Panamax.
    Kênh đào sử dụng một hệ thống âu tàu và cửa nước, phân chia theo đường vào và đường ra. Các âu tàu và cửa nước hoạt động như những thang máy: tàu thuyền được nâng lên từ mực nước biển (phía Thái Bình dương hoặc Đại Tây dương) cho đến khi bằng mực nước hồ Gatun (cao 26m so với mực nước biển). Bằng cách này tàu có thể tiếp tục đi qua hồ Gatun và được hạ xuống tới mực nước biển ở hệ thống âu tàu phía đầu bên kia của kênh đào và đi ra biển. Các ngăn âu tàu rộng 33.53m và dài 304.8m. Hiện nay, kích thước lớn nhất của các tàu có thể qua kênh đào là: chiều rộng 32.3m, mớn nước 12m nước ngọt, chiều dài 294.1m.
    Kể từ khi đưa vào hoạt động ngày 14/8/1914, Kênh đào Panama đã đóng vai trò quan trọng trong hàng hải quốc tế. Việc sử dụng tuyến đường biển đi qua Kênh đào đã tiết kiệm rất nhiều thời gian và chi phí vận chuyển hàng hoá từ Châu Âu tới các bang miền Tây nước Mỹ và từ Đông Á tới các bang miền Đông nước Mỹ, do tránh được việc phải đi vòng qua đi cực nam Châu Mỹ. Kênh đào Panama còn được nhiều nước trong khu vực sử dụng để kết nối chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu với các thị trường Mỹ, Châu Âu và Châu Á.
    Ngày nay, hàng năm có trên 14.000 tàu thuyền của 84 nước đi qua Kênh đào, với khối lượng hàng hoá đi qua chiếm 5% trao đổi thương mại của thế giới. Các nước sử dụng Kênh đào nhiều nhất là: Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Chile, Hàn quốc, Peru, Canada, Ecuador, Colombia và Mexico.
    Kênh đào là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thiên về dịch vụ của Panama. Các dịch vụ của Kênh đào tạo việc làm cho 9.000 lao động, trong năm tài chính 2006 (từ 10/2005-9/2006), đạt doanh thu gần 1,5 tỷ USD, sau khi trừ chi phí và các khoản đầu tư khác, nộp 570 triệu USD vào ngân sách quốc gia của Panama.
    Ngày 22/10/2006, Chính phủ Panama đã đưa Dự án mở rộng và hiện đại hoá Kênh đào Panama ra trưng cầu dân ý và dành được tỷ lệ ủng hộ 76,83%. Dự án này có số vốn đầu tư 5,25  tỷ đôla, thực hiện từ năm 2007 đến tháng 8/2014. Khi hoàn thành Kênh Đào sẽ cho phép tàu có kích thước rộng 49m, mớn nước 15m nước ngọt, chiều dài 366 m đi qua, dự kiến tăng gấp đôi năng lực vận chuyển của Kênh đào. Hiện nay, tàu lớn nhất đi qua Kênh đào có sức chứa 5,000 công-ten-nơ, nhưng sau khi được mở rộng các tàu chở dầu và chở hàng có sức chứa 12,000 công-ten-nơ có thể đi qua.
    Vừa qua,  ngày 08/7/2009, công-xoóc-xom Sacyr của Tây ban nha trong Nhóm "Đoàn kết vì Kênh Đào-United for the Canal" gồm các Công ty Impregilo SpA của Italy, Jan de Nul NV của Bỉ, và Constructora Urbana của Panama vượt qua các công ty dự thầu của Mỹ, Nhật… đã trúng thầu Dự án mở rộng và hiện đại hoá Kênh đào./.

    Người khơi thông kênh đào Suez

    Views:

    Thứ Bảy, 23/11/2013 - 11:21- Báo dân trí

    Không phải là kỹ sư, cũng chẳng phải nhà tài chính, không ai có thể nghĩ ông lại thực hiện được công việc vĩ đại là khơi thông kênh đào Suez-tuyến đường biển ngắn nhất nối liền lục địa Á-Âu mà không phải qua châu Phi và được ví như động mạch của nền kinh tế thế giới.

    Ông là Ferdinand de Lesseps.

    Chân dung kiến trúc sư Ferdinand de Lesseps.
    Ferdinand de Lesseps sinh ngày 19/11/1805 tại Versailles, trong một gia đình có truyền thống làm chính khách ngoại giao của nước Pháp. Nối nghiệp gia đình, đến tuổi trưởng thành, Ferdinand de Lesseps lại trở thành một nhà ngoại giao.
    Việc trở thành một nhà ngoại giao đã giúp Lesseps có cơ hội được công tác ở nhiều nước trên thế giới như Bồ Đào Nha, Tunisia, Ai Cập, Algeria, Hà Lan, Tây Ban Nha và Italy... Và thời gian ông được cử giữ chức Lãnh sự Pháp tại Ai Cập đã có ảnh hưởng lớn đến công trình xây dựng kênh đào Suez của ông sau này.
    Chính ông là người đã khơi lại ý tưởng chiến lược của Hoàng đế Pháp Napoleon Bonaparte về việc xây dựng một con kênh nhân tạo nối Địa Trung Hải với Biển Đỏ. Từ cuối thế kỉ XVIII, khi chinh phục Ai Cập, Napoleon Bonaparte đã cho tiến hành các nghiên cứu về việc xây dựng một con kênh nối liền Địa Trung Hải và Biển Đỏ, tuy nhiên dự án này sau đó đã bị gác lại vì Napoleon phải quay trở về Pháp.
    Sau khi khơi lại ý tưởng xây dựng kênh đào Suez, Lesseps đã tiến hành một công trình nghiên cứu khảo sát vào năm 1846 và khẳng định mực nước giữa Địa Trung Hải và Biển Đỏ không chênh nhau, nên việc xây dựng một con kênh nhân tạo là một phương án khả thi.
    Kênh đào Suez năm 1934.
    Sau đó, bằng tài ngoại giao của mình, Lesseps đã thuyết phục được chính quyền Ai Cập cấp phép xây dựng vào năm 1856. Tháng 4/1859, Pháp chính thức tiến hành xây dựng kênh đào Suez. Trải qua 10 năm xây dựng gian nan, vất vả với sự tham gia của hơn 2,4 triệu công nhân Ai Cập, trong đó 125.000 người đã thiệt mạng, tháng 11/1869, kênh đào Suez chính thức được khánh thành và đi vào hoạt động.
    Kênh đào Suez, nằm ở phía tây Ai Cập, có chiều dài 163 km, sâu 17 m, rộng 150 m, nối liền thành phố cảng Port Said trên bờ Địa Trung Hải và thành phố cảng Suez trên bờ Biển Đỏ. Khi đi vào hoạt động, kênh đào Suez có vai trò rất quan trọng. Nó đã góp phần rút ngắn tuyến đường biển cho những con tàu (dưới 150.000 tấn) đi từ Đại Tây Dương qua Địa Trung Hải đến Biển Đỏ rồi qua Ấn Độ Dương hay ngược lại. Cũng nhờ có kênh đào Suez, con đường biển từ London (Anh) tới Mumbai (Ấn Độ) đã rút ngắn được gần 12.000 km.
    Kênh đào Suez hiện nay.
    Kênh đào Suez nhanh chóng có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của nền giao thương thế giới. Cho đến nay, nó vẫn là huyết mạch sống còn của tuyến lưu thông hàng hóa từ Đông sang Tây, đặc biệt là vai trò quan trọng trong việc vận chuyển dầu mỏ từ Trung Đông đến các nền kinh tế phát triển. Mỗi năm có khoảng gần 19.000 tàu, chuyên chở khoảng 700 triệu tấn hàng hóa các loại đi qua kênh đào này. Hơn thế, kênh đào Suez còn có vai trò chiến lược về an ninh trong khu vực Trung Đông. Tiếp nối thành công của kênh đào Suez, Ferdinand de Lesseps tiếp tục lên kế hoạch cho việc xây dựng kênh đào Panama - con kênh giữ vai trò huyết mạch nối giữa Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Năm 1880, công ty của Lesseps khởi công công trình xây dựng con kênh đào giữa hai bờ đại dương ở Panama. Tuy nhiên những kinh nghiệm và sự tài giỏi của các kỹ sư Pháp được thử thách ở kênh đào Suez đã không giúp họ vượt qua được những điều kiện thời tiết khắc nghiệt tại Panama. Bệnh tật và sự yếu kém trong điều hành dự án đã khiến cho công ty của Lesseps phá sản vào năm 1889.
    Những nỗ lực sau đó của người Pháp nhằm duy trì việc xây dựng kênh đào Panama đều thất bại do thiếu kinh phí, vì thế người Pháp đã phải bán dự án cùng trang thiết bị xây dựng cho người Mỹ.
    Tuy không thành công với kênh đào Panama, nhưng những khảo sát của Lesseps vẫn được người Mỹ dùng làm cơ sở để hoàn tất công trình kênh đào Panama vào đầu thế kỷ XX. Kênh đào Panama được coi là một cuộc cách mạng trong giao thông đường biển của thế giới. Nhờ có “công trình thế kỷ” này, tàu chở hàng không phải đi qua Nam Mỹ và mũi Kap Hoon nguy hiểm, rút ngắn đường đi giữa hai đại dương.
    Lesseps qua đời vào ngày 7/12/1894. 5 năm sau, để tỏ lòng tôn kính đối với một trong những thiên tài sáng tạo của thế kỷ XIX, một bức tượng hoành tráng của ông đã được xây dựng ngay ở lối vào của con kênh đào Suez. Tuy nhiên, đến cuối năm 1956, sau khi Ai Cập quốc hữu hóa kênh đào Suez, bức tượng đã được gỡ bỏ, tượng trưng cho sự kết thúc quyền sở hữu kênh đào này của người châu Âu. Bức tượng được chuyển đến cảng Fouad.
    Đến nay không ai có thể phủ nhận rằng sự ra đời của kênh đào Suez đã có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển giao thương không chỉ của Ai Cập mà của toàn thế giới. Không những thế, nó còn là biểu tượng của những tiến bộ khoa học thế giới vào cuối thế kỷ XIX.
    Theo TTTL
    Báo Tin tức

    Top 10 đỉnh núi cao nhất thế giới:

    Views:

    Núi non hùng vĩ, kỳ tích dẫy đầy...rồi sẽ có một ngày nào đó bạn lại nẫy sinh ý định để tham quan, tìm kiếm...và phát hiện những điều kỳ lạ từ những kiến thức mà Khanhnguyen' s blog tổng hợp.
    Danh mục gồm(Bạn Click vào để xem):

                 1. Núi Everest
                 2. K2 hay Godwin Austen
                 3. Kanchenjunga
                 4. Lhotse
                 5. Makalu
                 6. Cho Oyu
                 7. Dhaulagiri
                 8. Manaslu
                 9. Nanga Parbat
                 10. Annapurna

    Núi Everest (chiều cao: 8.850m). Nằm ở dãy Khumbu Himalaya ở khu vực biên giới Nepal và Trung Quốc. Nằm giữa biên giới Tây Tạng và Nepal, Everest là đỉnh núi cao nhất thế giới. Năm 2007, nơi này có độ cao 8.848 m so với mực nước biển. Do vận động kiến tạo địa chất, đỉnh núi này vẫn cao thêm 2,5 cm mỗi năm. Người Nepal gọi đỉnh núi này là Sagarmatha, nghĩa là Trán trời. Còn người Tây Tạng gọi đó là Chomolangma tức Thánh mẫu vũ trụ.

    1996 - thảm hoạ Everest

    Trong mùa leo núi năm 1996 mười chín người đã chết vì cố gắng trèo lên đến đỉnh và cho năm đó là một năm chết người nhất trong lịch sử leo Everest. Ngày 10 tháng 5 năm đó là ngày chết chóc nhất trong lịch sử leo Everest, khi một cơn bão đập vào nhiều nhà leo núi ở gần đỉnh (trên bậc Hillary), giết đi tám người. Trong số những người tử nạn là những nhà leo núi kinh nghiệm Rob Hall và Scott Fischer, cả hai đều là những nhà thám hiểm được trả lương cao nhất để lên đến đỉnh. Thảm họa đã được biết đến rộng rãi trong công chúng và đặt ra những câu hỏi về việc thương mại hóa đỉnh Everest.




    K2 hay Godwin Austen, là đỉnh núi cao thứ nhì trên mặt đất, nằm tại giáp ranh biên giới giữa huyện Taxkorgan, địa khu Kashgar, Tân Cương, Trung Quốc và Pakistan, thuộc dãy núi Karakoram. 



    Cao 8.611m so với mực nước biển, được khám phá và đo đạc trong đợt khảo sát của người Ấn vào năm 1856. Tên đầu tiên của đỉnh này là Godwin Austen - tên của một nhà địa chất người Anh khi đến khảo sát và tìm ra nơi này. Tên gọi K2 lấy từ chữ cái đầu của dãy Korakoram. Do địa thế hiểm trở với các sườn đá dốc đứng, trơn trượt và thời tiết khó dự đoán, nên rất nhiều nhà leo núi đã thiệt mạng trong khi cố chinh phục đỉnh núi này.


    (chiều cao: 8.586m) mét (28.169 foot). Nằm trên dãy Kanchenjunga Himalaya, biên giới Nepal và Ấn Độ, nằm trên vùng lãnh thổ của tỉnh Taplejung.
    Kangchenjunga dịch nghĩa là "Năm Kho Báu của tuyết", vì nó có năm đỉnh núi, bốn trong số đó có độ cao trên 8.450 mét, vì nó bao gồm 5 đỉnh, có độ cao đều trên 8.000m phủ đầy tuyết đó là Kanchenjunga Main; Kanchenjunga West (hay còn gọi là Yalung Kang); Kanchenjunga Central; Kanchenjunga South và Kambachen.. Các bảo vật đại diện cho năm kho của Thiên Chúa, đó là vàng, bạc, đá quý, hạt ngũ cốc, và sách thánh. Kangchenjunga được gọi là Sewalungma trong ngôn ngữ Limbu địa phương, dịch là 'núi mà chúng tôi gửi lời chúc mừng cho'. Kanchenjunga hoặc Sewalungma được xem là thiêng liêng trong tôn giáo Kirant.
    Điểm bất lợi của ngọn núi này khi chinh phục là bị cản trở bởi tuyết lở, thời tiết khắc nghiệt và không có đường mòn trực tiếp dẫn lên đỉnh núi. Do đó, cho đến nay mới chỉ có 187 nhà leo núi chinh phục được Kangchenjunga. ( Theo tài liệu kenh14.vn).


    (chiều cao: 8.516m). Thuộc Khumbu Himalaya, biên giới Nepal và Trung Quốc.
    là ngọn núi cao thứ tư thế giới (sau Everest, K2 và Kangchenjunga). Nó nối với Everest qua đèo Nam. Lhotse có nghĩa "đỉnh Nam" trong tiếng Tây Tạng. Ngoài đỉnh chính cao 8.516 mét (27.940 ft) so với mực nước biển, Lhotse Trung (Đông) cao 8.414 m (27.605 ft) và Lhotse Shar cao 8.383 m (27.503 ft). Ngọn núi này nằm tại biên giới giữa Tây Tạng (Trung Quốc) và vùng Khumbu của Nepal.
    Những thử nghiệm đầu tiên chinh phục đỉnh Lhotse là cuộc thám hiểm Himalaya quốc tế năm 1955 do Norman Dyhrenfurth dẫn đầu. Những nhà leo núi quốc tế có sự hỗ trợ của 200 phu khuân vác địa phương cùng một vài nhà leo núi người Sherpa. Sau khi cảm thấy nguy hiểm từ việc tiếp cận phía nam của Lhotse Shar, họ đổi ý, qua Thung lũng Tây và leo lên từ mặt tây bắc Lhotse. Từ tháng 9 đến tháng 10 đoàn leo núi đã đạt đến độ cao khoảng 8.100 mét (26.600 ft). Họ không lên tiếp được nữa vì gặp gió mạnh bất thường và nhiệt độ quá thấp. Dưới sự chỉ dẫn của Schneider, một nhà bản đồ học trong đoàn, họ hoàn thành được bản đồ đầu tiên về khu vực Everest (tỉ lệ bản đồ 1:50 000). Đoàn thám hiểm cũng ghi lại vài đoạn phim ngắn về văn hóa địa phương và trèo lên một số ngọn núi thấp hơn ở vùng Khumbu. Đỉnh chính của Lhotse bị chinh phục lần đầu tiên vào ngày 18 tháng 5 năm 1956 bởi đội leo núi Thụy Sĩ gồm Ernst Reiss và Fritz Luchsinger. Vào ngày 12 tháng 5 năm 1970, hai nhà leo núi người Áo Sepp Mayerl và Rolf Walter là những người đầu tiên lên được Lhotse Shar. Một thời gian lâu sau thì Lhotse Trung vẫn là điểm cao nhất chưa bị chinh phục trên Trái Đất. Ngày 23 tháng 5 năm 2001, nhóm đầu tiên của đoàn thám hiểm Nga gồm Eugeny Vinogradsky, Sergei Timofeev, Alexei Bolotov và Petr Kuznetsov đã lên được đỉnh này. Đường leo núi thông thường lên Lhotse đi theo cùng tuyến với đường lên Everest qua Đèo Nam bằng cách lên tới Dải Vàng ở bên dưới trại 3. Sau Dải Vàng con đường sẽ chia hai ngả. Với những người leo Everest sẽ rẽ bên trái sẽ lên Gót Geneva rồi tới Đèo Nam. Trong khi đó để lên Lhotse những nhà leo núi rẽ bên phải. Phần cuối cùng để chinh phục đỉnh núi là vượt qua một khe núi hẹp cho đến khi lên được đỉnh chính. Tính đến tháng 12 năm 2008, đã có 371 nhà leo núi chinh phục thành công Lhotse và 20 người tử nạn tại đây.



    (chiều cao: 8.485m). Nằm trên dãy Khumbu Himalaya, biên giới Nepal và Trung Quốc. là ngọn núi cao thứ năm trên thế giới ở độ cao 8.463 m (27.766 ft). Nó nằm trong dãy Himalaya Mahalangur 19 km (12 dặm) về phía đông nam của núi Everest, trên biên giới giữa Nepal và Trung Quốc. Một trong tám ngọn núi cao nhất thế giới, Makalu là một đỉnh cao bị cô lập có hình dạng là một kim tự tháp bốn mặt.

    (chiều cao: 8.188m). Thuộc dãy Khumbu Himalaya, biên giới Nepal và Trung Quốc.


    (chiều cao: 8.167m). Nằm trên dãy Dhaulagiri Himalaya ở Nepal, có tọa độ 28°41′45″B, 83°29′36″Đ, được chinh phục vào năm 1960 theo tư liệu cung cấp của Wikipedia (Thư viện Bách Khoa Toàn Thư)




    (chiều cao: 8.163m). Thuộc dãy Manaslu Himalaya, trên lãnh thổ Nepal. là ngọn núi cao thứ tám trên thế giới với độ cao 8.163 m (26.781 ft) trên mực nước biển. Nó nằm trong Mansiri Himal, một phần của dãy Himalaya Nepal, ở phía tây-trung bộ của Nepal. Tên của nó, có nghĩa là "Núi của Trời", bắt nguồn từ tiếng Phạn Manasa, có nghĩa là "trí tuệ" hay "linh hồn". Manaslu lần đầu tiên có người leo lên vào ngày 9 tháng năm 1956 với người leo là Toshio Imanishi và Gyalzen Norbu, các thành viên của một đoàn thám hiểm của Nhật Bản. Người ta nói rằng "chỉ người Anh xem Everest là núi của họ, Manaslu luôn luôn là một ngọn núi của Nhật Bản




    (chiều cao: 8.125m). Nằm trên dãy Nanga Parbat Himalaya ở Pakistan. với chiều cao 8.126 mét (26.660 ft), đây là ngọn núi cao thứ 9 thế giới. Ngọn núi nằm ở sườn tây của dãy núi Hi Mã Lạp Sơn thuộc khu vực Gilgit-Baltistan của Pakistan.



    Ngọn núi này còn có tên gọi khác là "Kẻ ăn thịt người" hay "Núi quỷ". Núi này là nơi chứng kiến nhiều tai nạn chôn vùi trong tuyết của người leo núi. Ở đây có nhiều vách đá dựng cao nhất thế giới, đặc biệt ở phía nam mọc lên bức tường cao 4.600 m. Các cố gắng vượt qua một đỉnh núi cao trên 8000 mét đầu tiên được ghi nhận là trong chuyến thám hiểm của Albert F. Mummery và J. Norman Collie, họ đã cố đến núi Nanga Parbat tại Kashmir (nay là Gilgit-Baltistan, Pakistan) vào năm 1895; song nỗ lực này đã thất bại khi Mummery và hai Gurkha khác là Ragobir và Goman Singh thiệt mạng vì gặp phải một trận lở tuyết.


    (chiều cao: 8.091m). Thuộc dãy Annapurna Himalaya ở Nepal, có tọa độ 28°35′05″B, 83°59′28″Đ theo tư liệu của Wikipedia cung cấp. 

    Mặc dù đứng cuối trong bảng xếp hạng 10 ngọn núi cao nhất thế giới nhưng Annapurna được coi là ngọn núi nguy hiểm nhất thế giới. Với độ cao 8.091m so với mực nước biển, Annapurna là một chuỗi những đỉnh núi ở Hymalaya, bao gồm có 6 ngọn chính: ngọn Annapurna từ 1 - 4, Annapurna (phía) Nam và ngọn Gangapurna. Trong tiếng Phạn (sanskrit), Annapurna có nghĩa là “Nữ thần thu hoạch”. Kể từ năm 1950, đã có khoảng 130 nhà leo núi tìm cách chinh phục ngọn núi cao 8.091m này nhưng 53 người đã thiệt mạng vì lý tưởng của mình.



    Trên đây chỉ là một con số giới hạn cho phép. Thời gian tới Khanhnguyen' s blog sẽ còn bổ sung thêm nhiều nữa các thông tin bổ ích khác . Chúc các bạn nhiều niềm vui.

    Khanhnguyen' s blog

    BACK TO TOP