Chương mục lựa chọn

  • Trang chủ
  • Kỹ thuật tin học
  • Mạng Xã hội
  • Tiện ích
  • Truyện hay
  • Site Map
  • Email this page
  • Print Friendly and PDF
  • Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện cổ tích. Hiển thị tất cả bài đăng
    Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện cổ tích. Hiển thị tất cả bài đăng

    Thuật xử thế đầy trí tuệ của cổ nhân, biến những việc khó khăn thành đơn giản

    Views:

    Những bậc hiền tài xưa, trong việc giải quyết các vấn đề của cuộc sống, đều có thể vận dụng trí tuệ một cách linh hoạt, khiến cho những việc tưởng chừng bế tắc biến thành thuận lợi.


    xử thế, cổ nhân, Bài học,
    Người xưa giải quyết vấn đều đều có thể vận dung trí tuệ linh hoạt. (Ảnh: 360doc)
    1. Đối nhân xử thế dùng “Thành” làm gốc
    Một lần, Khổng Tử cùng với mấy người đệ tử của ông đàm luận về cách đối nhân xử thế.
    Tử Lộ nói: “Người khác dùng thiện ý để đối đãi với ta, ta sẽ dùng thiện ý để đối đãi với hắn. Người khác dùng không thiện ý đối đãi với ta, ta cũng dùng không thiện ý để đối đãi với hắn”.
    Khổng Tử nghe xong, bình luận: “Đây là cách làm của những kẻ man rợ thấp kém không có đạo đức lễ nghĩa”.
    Tử Cống nói: “Người khác dùng thiện ý để đối đãi với ta, ta cũng dùng thiện ý đối đãi với hắn. Người khác dùng không thiện ý đối đãi với ta, ta sẽ chỉ dẫn hắn hướng thiện”.
    Khổng Tử bình luận: “Đây là cách làm giữa những người bạn”.
    Nhan Tử nói: “Người khác dùng thiện ý để đối đãi với ta, ta cũng dùng thiện ý đối đãi với hắn. Người khác dùng không thiện ý đối đãi với ta, ta dùng thiện ý đối đãi với hắn và chỉ dẫn hắn hướng thiện”.
    Không Tử nghe xong lại bình luận: “Đây là cách làm nên có giữa những người thân. Nếu như có thể đem cách này mở rộng ra, dùng thành tâm đối đãi với người trong thiên hạ thì mới thực sự là thiện chí giúp người”.
    2. Tư duy suy nghĩ trái chiều
    Tôn Tẫn là một nhà binh pháp nổi tiếng thời Chiến Quốc, câu chuyện kể lại khi ông tới Ngụy quốc cầu danh. Ngụy Huệ Vương lòng dạ hẹp hòi, đố kỵ người tài hoa, cố ý làm khó và nói với ông: “Nghe nói ngươi rất có tài năng, nếu nhà ngươi có thể làm ta đang ngồi trên này đi xuống dưới đó thì ta sẽ bổ nhiệm ngươi làm tướng quân”.
    Ngụy vương vừa nói vừa thầm cười nhạo Tôn Tẫn: “Ta sẽ không đứng lên để xem nhà ngươi làm thế nào?
    Tôn Tẫn nghĩ: “Ngụy vương ỷ lại việc mình đang ngồi trên ngai vàng, nếu ta dùng hành động cưỡng ép ông ấy xuống đây, sẽ vì mang tiếng đắc tội với hoàng đế mà chịu tội chết. Làm thế nào được nhỉ? Chỉ có cách dùng lối tư duy nghịch hướng, để ông ta tự động xuống đây“.
    xử thế, cổ nhân, Bài học,
    Tôn Tẫn từ nhỏ theo học binh pháp với Quỷ Cốc Tử, đã tỏ ra có tài năng hơn người. (Ảnh: Epoch Times)
    Tôn Tẫn bèn nói với nhà vua: “Thưa đại vương, tôi thật sự không có cách nào có thể làm ngài đang ngồi trên ngai vàng đi xuống đây nhưng tôi có cách để làm ngài đang từ đây lên ngồi trên ngai vàng”.
    Ngụy vương nghĩ thầm: “Thế thì cũng có gì khác nhau chứ, ta cứ không ngồi lên ngai vàng để xem nhà ngươi làm thế nào?”. Nói xong vua hớn hở đi từ trên ngai vàng xuống chỗ Tôn Tẫn.
    Tôn Tẫn liền nói: “Bây giờ thật sự tôi không có cách làm đức vua trở về ngai vàng, nhưng tôi đã làm cho ngài từ trên ngai vàng đi xuống dưới này rồi”. Lúc này Ngụy vương mới biết mình đã mắc mưu, chỉ còn cách phong cho ông làm tướng quân.
    3. Chiến lược vòng vèo
    Có rất nhiều người khi xử lý sự việc hay nói thẳng thừng mọi điều, kết quả khiến việc không thành mà trái lại còn thường làm hỏng việc. Người khôn ngoan sẽ vận dụng tài trí khéo léo để làm mọi việc hanh thông, như câu chuyện dưới đây.
    Vua Tề Cảnh Công thời Xuân Thu là người rất thích nuôi chim, ông để đại thần của mình là Trúc Công giúp ông trông coi con chim quý hết mực yêu mến. Nhưng vì không cẩn thận, Trúc Công để con chim bay mất. Tề Cảnh Công vô cùng tiếc nuối, tức giận muốn giết Trúc Công.
    Một vị tướng của nước Tề là Yến Tử sau khi biết được sự việc đã nói với Tề Cảnh Công: “Dạ được, xử hắn chết để tạ tội với hoàng thượng, nhưng trước khi giết chết Trúc Công, thần muốn luận tội của ông ta trước mặt hoàng thượng, để ông ta chết cũng nhắm được mắt”.
    Nói lời, Yến Tử cho người trói Trúc Công, rồi lớn tiếng luận tội, tổng cộng có ba tội: “Thứ nhất, con chim mà vua yêu thích đã bị Trúc Công sơ ý làm bay đi mất; Tội thứ hai, chỉ vì con chim bay mất mà khiến vua phạm tội giết người; Tội thứ ba, Trúc Công chết rồi cũng chẳng sao, nhưng việc vua vì một con chim mà giết người bị truyền ra ngoài, thì quốc vương các nước chư hầu và toàn dân sẽ cười nhạo nói Tề Vương coi trọng một con chim hơn tính mạng một con người, như vậy chẳng phải làm bại hoại danh tiếng của vua rồi sao?”.
    Tề Cảnh Công nghe xong chợt bừng tỉnh, liền cười nói: “Ta hiểu rồi, hãy nhanh chóng thả Trúc Công ra”.
    Đây chính là sự thông minh sử dụng chiến lược vòng vèo của Yến Tử, nhờ đó mà khiến Tề Vương tự nhận ra cái sai của mình, lại cứu mạng được một đại thần , binh pháp Tôn Tử gọi đây là biến cong thành thẳng.
    4. Bình tĩnh mỗi lần đối diện với việc lớn
    xử thế, cổ nhân, Bài học,
    Gia Cát Lượng lấy tĩnh chế động, là bậc kỳ tài xử thế trong lịch sử.
    Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa có ghi chép sau khi Lưu Bị chết, nước Ngụy và nước Ngô liên kết với các dân tộc thiểu số mang ngũ lộ đại quân tiến đánh nước Thục. Khi ngũ lộ đại quân đánh tới nơi, Lưu A Đẩu bị dọa sợ tới gần chết chứ đừng nói tới việc dẫn đầu đại quân đi chống lại.
    Nhưng Gia Cát Lượng thì ngược lại, tự giam mình trong phòng ba ngày không tiếp khách, tĩnh tâm suy nghĩ đối sách, kết quả ngũ lộ đại quân bị sự ung dung của ông hóa giải. Đây chính là câu chuyện Gia Cát Lượng “An cư bình ngũ giải” nổi tiếng.
    Tôn Tẫn và Gia Cát Lượng đều là những nhà đại chính trị “nội thánh ngoại vương” (bên trong là tài đức của một bậc thánh hiền, bên ngoài là từ bi lương thiện của một bậc đế vương) hiếm có trong lịch sử, đều là những người đạt được thật sự tĩnh chỉ trong suy nghĩ.
    Trong Giới Tử Thư, Gia Cát Lượng đã tổng kết một cách thấu đáo cái gọi là “Phi ninh tĩnh vô dĩ trí viễn”, ý rằng không đạm bạc thì không thể sáng cái chí, không yên lặng thì không thể nghĩ được xa.
    Nguồn TinhHoa.net

    Của thiên trả địa

    Views:
    Ngày xửa ngày xưa, ở một làng nọ có hai chàng trai cùng làm nghề cuốc mướn cày thuê, một anh là Thiên, anh kia là Địa. Cả hai đều có điểm giống nhau chính là họ đều là những kẻ nghèo rớt mùng tơi, hơn nữa cả hai đều là trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ. Tuy nhiên thì Thiên lại có phần sáng dạ hơn, ai bảo gì thì anh đều hiểu được. Vậy là một ngày kia Địa mới bảo Thiên rằng:
    – Nếu như cả hai ta đều cùng thế này thì không biết đến bao giờ mới có thể ngước đầu lên được. Nhưng anh lại được cái thông minh, nếu mà được học hành đến nơi đến chốn thì sau này chắc chắn sẽ thi đậu được làm quan to. Tôi nghĩ rồi, từ mai anh đừng làm nữa, một mình tôi sẽ cố gắng sức để làm thêm, lấy tiền để nuôi anh việc ăn học. Khi nào anh được ăn nên làm ra rồi thì đôi ta sẽ cùng hưởng chung phú quý.
    Thiên nghe bạn nói vậy cũng gật đầu đồng ý, Địa cũng không quên dặn dò: “Khi nào anh hiển đạt rồi thì đừng quên tôi đấy nhé!”.
    Sau ngày ấy thì Địa luôn cật lực ngày đêm làm thuê lấy tiền nuôi bạn học hành. Khi thấy Thiên càng học càng tiến thì anh chàng cũng càng hăng say làm việc hơn, không quản chi chuyện gì. Thời gian cứ như vậy trôi qua, loáng cái đã qua mười năm dùi mài đèn sách, cuối cùng thì Thiên cũng được đậu khoa thi hương, sau đó lại tiếp tục đi thi đình và đỗ Trạng nguyên. Nhà vua bổ nhiệm hắn làm quan to trong triều, người hầu kẻ hạ trong phủ vô cùng đông đúc, còn có được dinh thự vô cùng nguy nga, hắn cũng được tất cả mọi người trong thiên hạ trọng vọng.
    Nghe tin Thiên đỗ Trạng nguyên lại được vua cất nhắc, Địa vô cùng sung sướng. Vì vậy mà ngay lập tức anh chàng này đem trâu cày đến trả lại cho chủ. Sau đó không chần chờ bán luôn cái nhà mà mình đang ở để lấy chút tiền mua chút đồ lễ đến tìm dinh bạn. Nhưng Địa nào ngờ được rằng khi cầm theo đồ lễ đến nơi ở của Thiên thì kẻ kia cũng đã thay lòng đổi dạ tự bao giờ, hắn bây giờ chẳng muốn nhận người bạn cũ này nữa. Hơn nữa hắn còn không quên căn dặn bọn lính canh chặn Địa ở ngoài cổng không cho vào. Bị bạn đuổi thì Địa tủi thân lắm, nhưng không còn cách nào đành lủi thủi trở về.
    Khi anh chàng đi tới bờ sông thì liền ngồi lại, nghĩ đến bạn lại không ngờ lòng người đen bạc, nước mắt lại rơi lã chã, anh chàng tự thương cho cái số phận hiu hẩm của mình. Hơn nữa bây giờ có muốn trở về làng thì cũng không còn chỗ nào để ở, vì anh đã lỡ bán mất căn nhà của mình rồi.
    Đột nhiên Bụt từ đâu hiện lên, giả làm một người đi đường ngang qua chỗ anh rồi dừng lại và hỏi thăm:
    – Làm sao con lại ngồi đây mà khóc?
    Nghe thấy Bụt hỏi vậy, Địa cũng thành thật kể hết đầu đuôi tất cả mọi chuyện. Sau đó Bụt bèn hóa phép biến ra cho anh chàng một chiếc thuyền, rồi dặn:
    – Thôi thì bây giờ con hãy ở lại nơi bến sông này chở khách đò qua lại cũng sẽ đủ ăn, không cần phải đi đâu làm thuê làm mướn nữa.
    Từ ngày đó Địa ở luôn nơi bến sông để làm chống đò chở khách sang ngang. Tuy nhiên thì anh chàng cũng chỉ làm đủ tiền nuôi miệng chứ không thể để dành được ít nào. Bởi vậy mà ngày giỗ cha cũng đã đến nhưng anh lại chẳng có gì để mà làm cúng được.
    Buổi chiều ngày hôm ấy, khi chở được mấy lượt khách sang bên kia bờ sông, Địa vừa đưa truyền đi về được nửa sông thì lại nghe thấy có tiếng ai gọi đò. Dù đã đi xa nhưng anh vẫn quay thuyền lại. Người gọi đò là một người đàn bà trẻ tuổi, rất xinh đẹp. Khi ấy trời cũng đã nhá nhem tối rồi, người đàn bà kia bảo Địa rằng:
    – Trời tối rồi mà đường tôi cần đi còn xa quá, anh có thể làm ơn để tôi nghỉ nhờ ở đây qua đêm nay được không?
    Nhà Địa ở hiện giờ chỉ là một túp lều nho nhỏ mà anh chàng dựng tạm bên bờ sông, bên trong nhà cũng chỉ có duy nhất một chiếc chõng, nhưng là anh cũng vui vẻ nhường nó cho người đàn bà kia nằm.
    Khi Địa chuẩn bị trở ra ngoài để tìm nơi ngủ tạm thì người đàn bà tự nhiên lại hỏi anh là:
    – Anh đã cưới vợ chưa?
    Tuy là ngạc nhiên nhưng Địa cũng vẫn trả lời thật:
    – Tôi chưa.
    – Vậy tôi xin được làm vợ anh nhé!
    Lúc này thì Địa không chỉ ngạc nhiên mà còn rất bỡ ngỡ nữa, anh hoàn toàn không biết phải trả lời người kia thế nào.
    Thấy vậy nàng lại nói tiếp:
    – Tôi đây vốn là người ở cung tiên. Vì trời thấy anh là một người tử tế nhưng phải chịu nhiều khổ sở nên mới phái tôi xuống đây để giúp cho anh được sung sướng.
    Khi nói xong nàng lập tức hóa phép để biến túp lều nhỏ bên bờ sông của Địa thành dinh cơ vô cùng đẹp đẽ có nhà ngói, có tường đất, lại còn cả hành lang và sân gạch, bên trong nhà thì các thứ đồ dùng đều có đầy dủ, hơn nữa còn có từng đoàn người hầu kẻ hạ nữa.
    Nhìn thấy những điều này thì Địa vừa kinh lạ lại vừa vui sướng. Sau đó nàng tiên lại tiếp tục làm phép hóa ra những cỗ bàn vô cùng linh đình giúp anh chàng tổ chức giỗ cúng cho cha. Sáng ngày hôm sau thì nàng tiên nói với Địa mặc đồ bằng gấm vóc, rồi ngồi lên kiệu để đến nhà Thiên, mời hắn tới nhà mình để ăn giỗ.
    Khác với lần trước, lần này khi Địa đến thì Thiên cho người tiếp đãi tử tế hơn. Tuy nhiên khi nghe Địa nói tới là để mời hắn đến nhà ăn giỗ cúng cha thì hắn liền bĩu môi mà nói rằng:
    – Nếu như chú muốn mời ta đến nhà chú chơi thì hãy đem chiếu hoa trải từ đây tới đó, như thế thì ta sẽ đến.
    Nghe hắn nói, Địa liền trở về và kể lại toàn bộ cho vợ mình nghe. Sau đó nàng tiên hóa phép để trải chiếu hoa hết đoạn đường dài bắt đầu từ cổng nhà mình cho đến tận dinh nơi Thiên đang ở. Thiên cũng không ngờ được rằng chỉ trong một thời gian ngắn mà Địa đã trở thành người giàu có, vì vậy liền đến xem rõ sự tình. Khi đến nơi quả thực hắn thấy vô cùng lạ lẫm với nhà cửa cũng như đồ đạc trong nhà Địa, hắn biết với cơ ngơi bây giờ thì có rất ít người có thể bì kịp với Địa. Trong khi ăn giỗ thì vợ Địa cũng tự mình ra để mời rượu. Thiên nhìn thấy nàng thì động lòng, bởi vì nàng quả thực quá đẹp, hắn đâm ra lại ghen tỵ khi thấy Địa được hạnh phúc.
    Khi rượu say thì hắn nói:
    – Này, chú hãy đổi cho tôi vợ chú, cơ nghiệp của chú cho tôi, còn tôi sẽ nhường cho chú chức quan và dinh cơ hiện tại của tôi cho chú.
    Địa tất nhiên không bao giờ mong muốn điều đó xảy ra. Nhưng chưa kịp từ chối thì nàng tiên đã nói nhỏ bên tai khuyên Địa đồng ý. Vậy là hai bên cùng lúc làm giấy tờ giao ước. Sau đó thì Địa được người hầu điệu lên võng trở về dinh, Thiên thì say rượu ngủ ly bì một giấc lâu. Sáng hôm sau khi Thiên tỉnh lại, hắn hoàn toàn ngơ ngác khi nhìn thấy mình đang nằm trong một túp lều lụp xụp cạnh bên sông. Hắn không tìm thấy người vợ xinh đẹp và dinh cơ lộng lẫy ngày hôm qua đâu, tất cả đều biến mất hết. Kể từ ngày đó thì hắn đành làm tiếp công việc chống đò của Địa trước đây. Còn Địa bây giờ bỗng lại hóa thông minh và khôn ngoan hơn, sau đó cứ làm quan và hưởng sung sướng đến hết đời.
    Nguồn sưu tập
    Kết luận:
    Người đời hay nói:"Của thiên trả địa. Phàm những gì không phải của mình, do mình tạo dựng, tất nhiên sẽ không thuộc về mình. Giọt nước trên trời cũng vậy, đã rơi xuống đất ắt sự luân hồi của nó cũng không ở một nơi được. Tất cả đều tan biến và chuyển dời theo lẽ tự nhiên. Một cân nói ngắn ngũi nhưng hàm ý rất sâu, dân gian đã khéo léo mượn cách ví von để nói bóng nói gió về cái ngữ nghĩa không có gì tồn tại vĩnh cữu. Cái hay ở chổ câu chuyện đã khéo léo gán danh phận tên tuổi trong cốt truyện, để rồi dẫn dắt nội dung về một kết cuộc, ngụ ý dạy người đời gìn giữ những thứ quý báu nhất trong cuộc sống. Chỉ có tình bạn và nghĩa tình mới là thứ phúc báu, vẫn còn tồn tại mãi mãi mà thôi.

    Hằng Nga và Hậu Nghệ

    Views:
    Trong "Bích Câu kỳ ngộ" của Vô Danh có câu:
    Hay là lỗi sổ Hằng Nga,
    Đêm đông vò võ, bóng tà sao thưa.
    Nghĩ tình nên những ngẩn ngơ...
    Trong "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều, đoạn ca tụng sắc đẹp của nàng cung nữ, có câu:
    Hương trời đắm nguyệt say hoa,
    Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình.
    Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đời nhà Trần (1225-1400) kêu gọi tướng sĩ, trong một bài hịch có đoạn "Nay ta bảo thật các ngươi nên cẩn thận như củi lửa, nên giữ gìn như kẻ húp canh, dạy bảo quân sĩ, luyện tập cung tên, khiến cho người nào cũng có sức khỏe như Bàng Mông và Hậu Nghệ, thì mới có thể dẹp tan được quân giặc, mà lập nên được công danh."
    Hằng Nga và Hậu Nghệ là hai nhân vật thần thoại được dùng trong Cổ văn Trung Hoa và Việt Nam.
    Hằng Nga trong cung trăng: Theo sách của Hoài Nam Tử, Hậu Nghệ xin thuốc trường sinh của bà Tây Vương Mẫu, Hằng Nga là vợ của Hậu Nghệ uống trộm, chạy lên cung trăng.
    Người chặt cây quế trong cung trăng: Theo sách "Dậu dương tạp trở", trong mặt trăng có cây quế cao 500 trượng, dưới gốc cây có một người ngồi chặt mãi, nhưng chặt xong, dấu chặt lại liền như cũ. Người ấy tên Ngô Cương, quê ở Tây Hà, tu tiên có lỗi bị phạt chặt cây.
    Con thỏ trong mặt trăng: Theo sách "Ngũ thông kinh nghĩa", trong mặt trăng có con thỏ hay con cóc.
    Ông già dưới trăng: Sách "Tục U quái lục" có chép: đời nhà Đường, Vi Cố đến Nam Điện ở Tống thành, thấy ông già xem sách dưới trăng. Vi Cố hỏi sách gì? Ông già đáp: Sổ hôn nhân thiên hạ. Vi Cố hỏi hôn nhân của mình thì ông lão bảo: ở chợ có bà già chột mắt bồng đứa bé 3 tuổi; đứa bé ấy sau là vợ. Vi Cố ra chợ bắt gặp người đàn bà như lời ông lão nên tức giận mướn người giết con bé ấy. May mắn, người đàn bà bồng đứa bé chạy thoát. Đứa bé chỉ bị thương xoàng. Mười bốn năm sau, Thứ Sử đất Dương Châu là Vương Thái gả con cho Vi Cố. Thiếu nữ ấy rất đẹp, nhưng cuối mày có một vết thẹo nhỏ. Cố hỏi nguyên cớ. Nàng trả lời: hồi lên 3 tuổi, người vú họ Trần bồng đi chợ bị một tên côn đồ đâm trúng. Cố hỏi người vú họ Trần có chột mắt không. Nàng nói có rồi kể lại chuyện cũ.
    Tích Hậu Nghệ: Theo "Sơn hải kinh", trên hang Dương phía bắc nước Răng Đen có cây Phù tang to lớn sống ở dưới nước, 9 mặt trời ở cành dưới; 1 mặt trời ở cành trên. Theo sách của Hoài Nam Tử, đời vua Nghiêu, 10 mặt trời cùng mọc một lần làm cây cỏ khô héo, vua Nghiêu sai Hậu Nghệ bắn 10 mặt trời, có 9 con quạ rớt lông cánh xuống.
    Theo kinh Thư, vua nước Hữu Cùng là Hậu Nghệ vì dân không phục, nổi lên kháng cự tại sông Hà. Sách "Tả Truyện" có chép: khi nhà Hạ suy, Hậu Nghệ nhờ sức ủng hộ của dân chúng được lên làm vua thay thế nhà Hạ. Về sau, Nghệ ỷ mình bắn giỏi, không lo chính sự, dâm bạo hơn thú dữ, dân oán ghét nổi lên giết chết, lại lóc thịt bắt con của Nghệ ăn. Không nỡ ăn thịt cha, con của Nghệ cũng bị giết luôn.
    Trong bản dịch thần thoại "Lên cung trăng" của nhà văn hào Trung Hoa là Ngô Tổ Quang có chép:
    Một thời đại rất xa xưa...
    Lúc bấy giờ con người được tự do, không bị áp bức chiến tranh, người hiếp bức người. Ai làm nấy ăn. Mặt trời mọc, đi làm; mặt trời lặn, về nghỉ. Đói có hoa quả; khát có nước suối.
    Con người bấy giờ không có họa người, chỉ có họa trờị Để tránh gió mưa, rét mướt, loài người đốn cây làm nhà, dệt vải may áo... Ngày tháng trôi qua, con người dùng kinh nghiệm và lao lực để cải thiện đời sống, mưu lấy sự hạnh phúc thanh bình.
    Nhưng, một hôm thình lình xảy ra một thiên tai dữ dội. Khắp dưới gầm trời đâu đâu cũng bị đại hạn. Nắng như lửa thiêu, đốt cháy tất cả làm cho sinh linh dậm đất kêu trời. Trên đường, thây người, thây thú chồng chất dẫy đầy.
    Nguyên ở gò Đất cuối biển Đông có hang Dương. Nơi đây 10 con quạ vàng vâng lệnh Thượng Đế thay nhau ban ánh sáng cho vạn vật. Trên hang có cây Phù tang cao vút tận trời. Chín con quạ ở cành dưới, một con quạ ở cành trên. Từ ngàn xưa chỉ có một con ra khỏi biển hóa thành mặt trời, ngày ngày tháng tháng chiếu ánh sáng xuống mặt đất làm cho mưa hòa, gió thuận, vạn vật sinh hóa. Nhưng bất ngờ, một hôm bốn biển chuyển động, đất lở núi rung, cây Phù tang quay cuồng, vì 10 con quạ vàng tranh nhau xuất hiện một lượt.
    Thế là nắng như lửa thiêu, đốt cháy cả vạn vật. Ban đầu, người ta còn ngâm mình dưới nước, núp trong hang núi... nhưng rồi, đầm nước, dòng suối đều hóa thành những vạc nước sôi. Đất bằng bỗng chốc lửa dậy làm cho nhân dân điêu đứng, đời người biến thành địa ngục.
    Đương lúc tiếng khóc, tiếng kêu gào kinh khủng của nhân dân, bỗng có một vị anh hùng xuất hiện.
    Vị anh hùng đó có tên Hậu Nghệ, sinh ở biển Đông, nước Hữu Cùng. Người võ nghệ phi thường, sức người có thể bạt núi lấp sông, giỏi nghề kỵ xạ. Hậu Nghệ có lại hai người học trò tên Phùng Mông và Ngô Cương đều có tài xuất chúng.
    Trông thấy 10 con quạ vàng hoành hành dữ tợn làm cho nhà cửa tiêu tan, đồng ruộng khô cháy, Nghệ vừa hoảng kinh vừa tức giận, đem lòng thương xót sinh linh, và nghĩ đến mối liên hệ với thân mạng mình nên mang 10 mũi tên thần, giương cung 10 tạ lên quyết bắn 10 con quạ vàng cho tiêu ra tro bụi.
    Nhưng ánh sáng rạng chói làm cho mắt đổ hào quang, không thể nhìn lên được. Nghệ bực tức, đứng tựa góc biển chân trời không do dự bắn luôn mấy phát. Những nơi có tên của Nghệ bắn tới thì nóng cháy nguội dần, ánh sáng êm dịu. Những lông cánh sắc màu của lũ quạ đua nhau rớt xuống. Một làn không khí mát mẻ bắt đầu.
    Trông thấy chín con quạ chết, Nghệ lại muốn giương cung bắn nữa, nhưng Phùng Mông ngăn lại:
    - Thưa thầy! Nếu thầy bắn chết cả thì vũ trụ sẽ trở nên đen tối mất.
    Nghệ "à" một tiếng, hạ cung xuống.
    Bấy giờ núi sông trở lại như xưa, cây cỏ tươi tốt. Đâu đâu cũng vang dậy tiếng hò reo hoan lạc. Nhân dân ca tụng công ơn vĩ đại của Hậu Nghệ, tôn thờ Nghệ là một vị cứu tinh, trọng quý Nghệ hơn mẹ cha. Sơn hào hải vị, họ đem dâng cho Nghệ dùng.
    Hậu Nghệ lên làm Hoàng đế.
    Mười năm sau.
    Nhân dân trước kia bị tai ách của 10 con quạ vàng thì nay lại mang phải tai ách do Hậu Nghệ gieo rắc.
    Nghệ ỷ mình có tài, tự kiêu là cứu dân, vậy dân phải làm tôi mọi mới xứng đáng đền đáp công ơn ấy. Nghệ chiếm hết thịt rừng, tài sản của nhân dân. Cả đến một con gà, một miếng bánh... cũng không thoát qua tay cướp đoạt của Nghệ.
    Nghệ lại tự hào là mình sẽ sống mãi vì có Linh chi dược thảo do ông tiên ban cho.
    Nhân dân bấy giờ sống trong tình trạng cực kỳ thảm khốc. Từng đám dân nghèo đói, quần áo rách nát, thân trụi mình trần, mặt mũi hốc hác vàng hoe, gục đầu vào đất kiếm rễ cây ăn. Vài xác người thắt cổ lơ lửng trên cành cây làm mồi cho đàn quạ đương đảo qua lượn lại.
    Bấy giờ núi rừng hoang vu xơ xác, cành khô lá úa, năm ba gốc cây còn lại nhưng trơ trọi, cằn cỗi.
    Ngày trước, Nghệ được bá tánh hoan hô vang dậy. Ai ai cũng trìu mến vâng theo Nghệ đi ra, cả ngàn người chạy theo quỳ lạy chúc tụng. Ngày nay, nhân dân oán ghét căm thù. Nghệ đi đến đâu, bá tánh bỏ chạy đến đó. Nghệ nhục nhã, tức giận ra lệnh cho học trò là Ngô Cương tàn sát hàng triệu sinh linh. Bị đói rách, bị giết chóc, nhân dân đau khổ, nỗi uất hận căm hờn ngùn ngụt cao mấy tầng mây.
    Phùng Mông can gián không được, bỏ Nghệ theo đám dân nghèo võ trang đánh lại thầy.
    Vợ của Hậu Nghệ là Hằng Nga.
    Nàng là con nhà nghèo ở một cánh đồng hoang phương Bắc. Nhưng nàng là con chim phượng hoàng, là đóa hoa khôi sắc đẹp tuyệt vời.
    Ngô Cương vâng lệnh thầy đi tìm người làm hoàng hậu. Đến phương Bắc, Ngô Cương bắt Hằng Nga về dâng cho Nghệ. Hằng Nga được Nghệ sủng ái, giao giữ cỏ Linh chi.
    Hằng Nga vì bị bắt, bỏ cha xa mẹ, quyết liệt đòi về. Nghệ sợ Hằng Nga trốn trong khi Nghệ đi săn tìm thịt nên truyền cho Ngô Cương canh gác, không cho Hằng Nga rời khỏi cung. Hằng Nga buồn tủi, ngày ngày chỉ làm bạn cùng con Ngọc thỏ trong cung lạnh.
    Trước sự tàn bạo của chồng, Hằng Nga không khuyên ngăn được; và biết rằng nếu chồng sống mãi thì càng làm nhiều tội ác, nhân dân đau khổ càng nhiều nên nàng nuốt cỏ Linh chi, để Nghệ không còn dùng cỏ tiên mà trường sinh nữa.
    Nuốt xong, Hằng Nga mặt mày xây xẩm một lúc, rồi thấy mình nhẹ bổng như không. Một đám mây ngũ sắc dưới chân Hằng Nga từ từ đưa Hằng Nga bay lên, Ngọc thỏ chồm nhảy theo. Hằng Nga đưa tay dắt rồi từ từ bay qua cửa sổ thẳng lên cung trăng.
    Hậu Nghệ đi săn thịt trở về, thấy mất Hằng Nga, tức giận Ngô Cương vì để Hằng Nga trốn thoát, nên bóp cổ Ngô Cương cho đến chết.
    Nghệ chạy lại cửa sổ trông lên mặt trăng.
    Ánh trăng sáng vằng vặc chiếu vào mặt. Hình bóng của vợ thấy thấp thoáng trong trăng. Nghệ giương đôi mắt tròn xoe nhìn. Thốt nhiên, Nghệ thét bọn vệ sĩ mang cung tên lại. Chúng khệ nệ khiêng chiếc cung và ba mũi tên lớn trên tường xuống. Nghệ đứng thẳng người như một trụ đá to, râu tóc dựng ngược, đôi mắt sáng quắc, không khác cảnh ngày xưa Nghệ bắn mặt trờị Nghệ lắp tên căng thẳng dây cung bắn lên.
    Hai phát tên bay ra, mặt trăng lung lay.
    Nhưng mũi tên thứ ba bật khỏi dây cung, mặt trăng vẫn sáng chói như trước, không hề hấn gì. Nghệ hạ cung xuống, mặt mày buồn nghiến, im lặng, đau khổ.
    Bỗng một cụ già hiện xuống.
    Hậu Nghệ giựt mình, nhìn ra là ông lão đã cho mình Linh chi thảo cách mười năm về trước.
    Cụ già liệng 3 mũi tên xuống đất, điềm đạm nói:
    - Già xin hỏi cố nhân. Ngày trước hạnh ngộ, già có nhắn nhủ cố nhân việc trị đời không khó. Phải thực hành nhân chính, quên mình để lo cho người. Mình phải lo trước người lo và chỉ vui sau khi người vui. Dân quý nhứt, nước thứ nhì, vua sau hết. Cố nhân sẵn sàng vâng nghe, nên già thể theo lời yêu cầu tha thiết của cố nhân là muốn sống mãi để hoàn thành sự nghiệp, vì đời sống con người thì hữu hạn mà sự nghiệp thì vô cùng, mới cho Linh chi thảo. Vậy mà khi cầm lấy quyền, cố nhân lại quên mất lời. Dân không sợ chết, sao lấy sự chết chóc trị thiên hạ. Bao nhiêu năm trời loạn lạc đau thương, giờ đây lòng người ly tán, sự nghiệp tan hoang, cố nhân còn chưa tỉnh hay sao Kìa, nghĩa quân đã hò reo tứ phía, cố nhân đã nghe chưa?
    Hậu Nghệ hai tay ôm đầu, giọng nói thiểu não:
    - Nghệ ăn năn, xin cụ chỉ giáo.
    - Việc đã qua rồi, ăn năn không kịp. Chỉ có cách cố nhân bỏ sắc phục hoàng đế, ăn năn hối lỗi thì mới có cơ cứu vãn.
    Hậu Nghệ cả giận, quắc mắt, quát:
    - Lão già khốn! Thừa lúc hiểm nguy của ta mà sỉ nhục ta sao?
    Vừa nói vừa rút gươm chém ông lão.
    Cụ già bình thản đưa tay hất gươm rạ Hậu Nghệ rùng mình lui lại ngồi xuống. Cụ già mỉm cười:
    - Cố nhân đến nước cùng mà còn hiếu sát. Kìa, cố nhân hãy nhìn xem.
    Giữa lúc ấy...
    Bên ngoài có tiếng chém giết lẫn tiếng hò reo vang dậy. Nghĩa quân bao vây tứ phía dưới sự chỉ huy của Phùng Mông.
    Bóng trăng khuất dần. Cụ già biến mất.
    Lửa cháy khắp nơi.
    Tiếng la vang:
    - Tiến! Tiến!
    Nghệ rút gươm xông tới, Phùng Mông đưa gươm ngăn. Cả hai đánh nhau. Nghĩa quân ào đến. Hậu Nghệ kiệt sức bỏ chạy. Đám dân đói rách cầm hèo gậy chận lại Nhìn qua tứ phía, nơi nào cũng có nghĩa quân. Phùng Mông kêu lên:
    - Hậu Nghệ! Hậu Nghệ! Thầy làm việc bất nghĩa, ngày nay tự xử lấy, đừng để bọn ta ra tay.
    Hậu Nghệ đứng dậy, dậm chân, cất tiếng cười đau đớn rồi đưa gươm đâm mạnh vào cổ. Xác Nghệ ngã xuống giữa tiếng reo hò của nghĩa quân.
    Trong cung trăng, bên cây quế cao trăm trượng, sắc vàng, mùi thơm bát ngát, Ngô Cương cầm búa chặt mãi cây quế nhưng cây quế không sứt mẻ mà vẫn càng cao càng lớn, càng tươi. Hắn bị đọa vì tính hiếu sát theo thầy. Cây quế bị chặt nhưng không hề hấn, nhân dân bị tàn sát nhưng nhân dân làm sao hết được.
    Bên cạnh, Hằng Nga ngồi xem Ngọc thố tán thuốc. Thỉnh thoảng, nàng lại thở dài, sa nước mắt. Nàng còn luyến tiếc cảnh trần gian. Vì trần gian đã chịu bao tai nạn: lụt lội, hạn hán, nắng lửa mưa dầu, binh đao chém giết, máu chảy thành sông, xương người thành núi; ngày nay nhân dân đã khắc phục được mọi tai ách rồi. Kìa từng đám người nô nức đương cày cấy, ca hát vui mừng; và xa xa làn khói lam chiều vẩn vơ quyện trên những mái nhà nhỏ ấm cúng, Hằng Nga tưởng nơi đây có lẽ là phương Bắc, quê hương yêu dấu của nàng.
    Ở đây, quanh năm vắng lạnh, chẳng có bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Muôn vật không sinh, không hóa. Trăm hoa không nở không tàn. Chán chường cảnh lẻ loi, hiu quạnh quá, Hằng Nga muốn trở về trần thế. Nhưng vì đã ăn cỏ Linh chi, nàng không bao giờ chết, lại trẻ đẹp mãi và muôn năm vẫn sống hoang liêu trong cung Quảng Hàn này.
    Nhìn ra ngoài không thấy thế gian đâu nữa, tư bề lạnh lẽo âm u, Hằng Nga bất giác xót xa đau đớn, nước mắt chảy ròng.
    Sau tấm bình phong bóng đuốc xa,
    Sao mai lặn hết, vắng Ngân Hà.
    Hằng Nga hối cắp Linh chi thảo,
    Sống mãi nhìn trời dạ xót xa.
    Nguồn vnthuquan.org
    Nguồn hình: trên mạng Internet

    Lâm Sanh Xuân Nương - Truyện Cổ tích

    Views:


    Ngày xưa, quan tổng đốc Lâm Phụng huyện Châu Thai nổi tiếng hìên đức bao nhiêu thì phu nhân Lý Phi Nương mang tiếng độc ác bấy nhiêu. 
        Khi quan tổng đốc qua đời, phu nhân cưới nàng Xuân Nương cho con trai là Lâm Sanh. Nhưng phu nhân không cho Lâm Sanh và Xuân Nương chung chăn gối bởi lẽ bà xem Xuân Nương như kẻ tôi đòi. Thương vợ, Lâm Sanh lén mẹ đi gặp Xuân Nương ở nhà sau để an ủi, thở than. 
        Xuân Nương về làm dâu ở nhà họ Lâm đã ba năm mà chẳng có tin về, làm cho vợ chồng Tiều lão thêm lo lắng. Hai ông bà lặn lội xuống Châu Thai thăm con. Thấy vợ chồng Tiều lão nghèo, phu nhân ra chiều khinh rẻ, tiếp đón lạnh nhạt. Lúc lâu phu nhân mới cho Lâm Sanh dẫn Xuân Nương ra chào cha mẹ. Ông bà Tiều lão sững sờ, chết lặng khi thấy Xuân Nương tìêu tuỵ, quần áo tả tơi. Tiều lão đòi bắt con về, nhưng phu nhân nào có chịu… 
        Không thể nào bắt Xuân Nương về được, vợ chồng Tiều lão lủi thủi ra về mà lòng già tan nát. Phu nhân tức giận quát hỏi: 
        - Xuân Nương, mày đã nói hành nói tỏi gì với cha mẹ mày mà ổng bả làm dữ đòi dẫn mày về? 
        - Xin mẹ tha thứ cho con, con đâu có dám. 
        - Con kia, chớ có qua mặt bà, gia nhân đánh nó cho ta. 
        Gia nhân nào dám cãi, đánh cho đến khi phu nhân hả giận thì Xuân Nương thịt nát xương tan. Trở về nhà, vợ chồng Tiều lão buồn bã, thương thân con trẻ gặp bà mẹ chồng độc ác. Bỗng một đêm đang ngủ, vợ chồng Tiều lão thấy Xuân Nương hiện về báo mộng: "Cha mẹ ơi! Mẹ chồng con cho gia nhân đánh con tới chết rồi vùi xác con ngoài bờ ruộng. Con chỉ về thăm cha mẹ trong đêm dài giá lạnh mà thôi!". 
        Ông bà Tiều lão chỉ kịp kêu lên: "Xuân Nương con!..." rồi ngồi bật dậy, ông bà nhìn nhau khóc ròng. 
        Thương con bao nhiêu, càng giận phu nhân bấy nhiêu, con người sao quá hiểm sâu, độc ác. Vợ chồng Tiều lão làm cáo trạng lên huyện đường. Quan huyện đã nhận hối lộ của phu nhân nên xử ép vợ chồng Tiều lão: 
        - Con gái ông bà lâm bệnh bất kỳ tử mà chết, chứ phu nhân họ Lâm thương con dâu không hết, giết chóc làm chi, ông bà nên bỏ qua đi. 
        Không kêu oan đựơc ở cửa huyện đường, ông bà Tiều lão cương quyết đòi cáo trạng lên tiếp cửa trên… 
        Lòng thương con thúc đẩy ông bà Tiều lão vựơt qua vạn dặm đầy nguy hỉêm, thẳng tới Trường An dâng cáo trạng lên vua. Xem xong, đức vua truyền cho toà tam pháp công đồng xét xử. Đức vua truyền gọi Lâm Sanh, buộc chàng khai sự thật. Phu nhân tội ác rõ ràng, đức vua quyền đem ra xử trảm để răn kẻ ác tâm. 
        Động lòng hiếu tử, Lâm Sanh liều chết xông vào pháp trường cõng mẹ chạy thoát thân. Kiệt sức, Lâm Sanh té quỵ. Đốc tướng đem binh đuổi theo bắt đựơc, giải về trìêu. 
        Đức vua nổi trận lôi đình, truyền đem phu nhân chém ngay, còn Lâm Sanh giam vào ngục tối chờ ngày xét xử. Vào một đêm trăng sáng, công chúa nhàn rỗi ra dạo vừơn hoa, bỗng thấy hào quang sáng rực từ ngục tối. Công chúa bàng hoàng kinh ngạc, cùng thế nữ đến tận nơi dò xét, thấy một trang thư sinh khôi ngô tuấn tú… Vào triều, công chúa tâu lại với phụ vương những điều kỳ lạ mới thấy. Nhà vua truyền quân hầu vào ngục đem Lâm Sanh tới hầu. Muốn thử tài thơ văn của Lâm Sanh, đức vua liền ra đề. Lâm Sanh nhận lấy tờ hoa tiên, đặt bút thảo thành chương đem dâng lên. Xem xong đức vua khen ngợi vô cùng. 
        Đức vua ra lệnh ân xá và cho Lâm Sanh đựơc ứng thí. Lâm Sanh đỗ trạng nguyên đựơc gả công chúa. Được hiển đạt, Lâm Sanh về Châu Thai thăm nhà. Chàng thăm cố hương chưa đựơc bao lâu thì có Khâm sai đến triệu về kinh. Lúc qua trứơc mộ Xuân Nương, Lâm Sanh liền cúng hoa quả và khấn vái. Khâm sai lại giục giã lên đường, chàng đành gạt lệ ra đi. 
        Lòng chung thuỷ của Lâm Sanh động đến trời cao. Xuân Nương nhập về với xác ở miễu đường chờ đợi sẽ được đoàn tụ với mẹ cha. 
        Một hôm vợ chồng Tiều lão định xuống Trường An thăm Lâm Sanh. Đi một đoạn bỗng gặp một cô gái: 
        - Lạ quá, tôi thấy con nhỏ này sao giống tạc con Xuân Nương đó ông? 
        Ông cũng không tin, cho người giống con chớ con chết rồi làm sao sống lại đựơc. Nhưng Xuân Nương nhận ra cha mẹ, ôm lấy hai người mừng mừng tủi tủi. 
        Vợ chồng Tiều lão xuống tới Trường An, liền đưa Xuân Nương vào dinh. Tiều lão thử Lâm Sanh: 
        - Liễu Hoa em ruột Xuân Nương, nay chị đã qua đời xin thế cô em. 
        Lâm Sanh nói: 
        - Thưa nhạc phụ, một lời đã hẹn với Xuân Nương thì không khi nào con dám lỗi hẹn, để tủi lòng người đã khuất. Đây chính là vợ con. 
        Tiều lão khen thầm Lâm Sanh quả là kẻ trượng phu son sắt một lòng. Xuân Nương cảm động kể hết sự tình. Hôm sau, Lâm Sanh đưa Xuân Nương vào bệ kiến đức vua tâu hết sự tình. Vua khuyên Lâm Sanh xử sao cho vẹn mối tình với Xuân Nương và công chúa. Nghĩ mình già yếu, đức vua chọn lấy ngày lành, truyền ngôi cho quốc trạng Lâm Sanh. 
        Lâm Sanh phong cho Xuân Nương và công chúa là hoàng hậu ngang nhau.

    Nguồn http://vanhoc.quehuong.org

    Nàng Công Chúa Họm Hỉnh

    Views:


    Thuở xưa có một nàng Công Chúa đẹp tuyệt trần nhưng cũng rất kiêu căng và ngạo mạn. Dưới mắt nàng không có người đàn ông nào xứng đáng để nàng chọn làm chồng. Lần lượt từ người nầy đến người khác đều bị nàng đuổi ra khỏi cuộc thi sau khi bị nàng nhạo báng đủ điều. 

        Một ngày kia, Hoàng Đế cố gắng tổ chức một cuộc tuyển phò mã nữa cho con gái. Ngài mời tất cả những người có ý muốn làm chồng của Công Chúa đến tham dự. Họ được xếp hàng theo chức tước: trước tiên là những Vua của các nước lân bang, tiếp theo là các Hoàng Tử, các Công Tước, Bá Tước, Hiệp Sĩ và sau cùng là các thanh niên thường dân. Công Chúa được đưa đến trước mặt từng người để lựa chọn nhưng với mỗi người nàng đều tìm thấy ở họ một khuyết điểm. Người nầy thì nàng thấy rằng quá mập, nàng gọi chàng ta là Thùng Rượu Nho. Người kia thì quá cao "cao mà ốm nhom trông giống như Trái Dưa Chuột Ngâm Dấm. Người thứ ba lại quá lùn "lùn mà tròn quay giống y Trái Dưa Hấu" ! Người thứ tư thì "sao mà trắng xanh như Thần Chết"! Chưa hết, còn người nữa thì nàng cho là quá đỏ, "đúng là một Chú Gà Trống!". Người thứ sáu thì ôi thôi, càng tệ hơn nữa, lưng hơi còng, nàng ví chàng ta như "một khúc gỗ thông bị sấy khô trong lò sưởi". 
        Nói tóm lại, tất cả mọi người đều bị nàng phỉ báng về khuyết tật của họ, nhưng người khiến nàng đặc biệt thích thú đem ra làm trò hề là vị Vua nổi tiếng rất tốt của môt nước lân cận. Ngài có một cái cằm nhọn đưa ra đằng trước một tí. Khi nhìn thấy vị Vua nầy ở ngay hàng đầu tiên, Công Chúa đã cười rũ rượi: 
        - Ô hô, sao trên đời nầy có một cái cằm buồn cười như vậy. Trông nó như cái mỏ con chim hoạ mi ! 
        Và từ đó nàng gọi vị Vua ấy là Ông-Vua-Mỏ-Chim. 
        Thấy con gái quá khinh người, không kể gì đến những lời thán oán của các nạn nhân, Vua Cha bắt đầu nổi trận lôi đình và nguyền rằng nàng phải ưng thuận làm vợ của người hành khất đầu tiên đến xin ăn tại hoàng cụng 
        Vài ngày sau, một chàng hát dạo đến hát dưới các khung cửa sổ của lâu đài để xin bố thí. Vừa nghe chàng hát, nhà Vua ra lệnh cho hầu cận đưa chàng vào cung bệ kiến. Chàng bước vào, áo quần tơi tả, rách rưới. Chàng cất tiếng hát cho Vua và Công Chúa nghe. Khi âm thanh cuối cùng vừa chấm dứt, nhà Vua phán: 
        - Bài hát của nhà ngươi rất đẹp lòng ta. Vậy ta sẽ thưởng ngươi bằng cách cho phép ngươi cưới con gái cưng của ta làm vợ. 
        Công Chúa giận dữ phản đối, nhà Vua tiếp lời: 
        - Ta đã có lời thề sẽ trao con cho người hành khất đầu tiên đến đây và bây giờ ta phải thực hiện lời thề. 
        Thế rồi, mặc cho Công Chúa la hét, khóc lóc, nhà Vua ra lệnh tổ chức đám cưới ngay. Sau khi lễ cưới hoàn tất, nhà Vua nói với con gái: 
        - Bây giờ con đã trở thành vợ một tên ăn xin, con không có quyền ở lại trong hoàng cung nữa. Vậy con phải rời khỏi nơi đây đi theo chồng của con và cùng sinh sống với nó. 
        Chàng hát dạo nắm tay Công Chúa lôi đi. Nàng bắt buộc phải bước theo hắn. 
        Công Chúa lẻo đẻo theo chồng đi bộ khá lâu thì đến một khu rừng rậm rạp những cây gỗ quí. Nàng hỏi chồng: 
        - Khu rừng nầy là của ai vậy? 
        - Của Ông-Vua-Mỏ-Chim. Nếu trước đây nàng ưng thuận lấy Ngài thì nó đã thuộc về nàng rồi ! 
        - Ta thật là ngu xuẩn đã không bằng lòng làm vợ Vua Mỏ Chim ! 
        Sau đó họ đi ngang qua một cánh đồng lúa bao la, Công Chúa lại hỏi: 
        - Ai là chủ nhân của cánh đồng cò bay thẳng cánh phì nhiêu nầy vậy? 
        - Đó là Ông-Vua-Mỏ-Chim. Nếu Ngài là chồng của nàng thì nó đã thuộc về nàng rồi ! 
        - Ta thật là ngu xuẩn đã không bằng lòng làm vợ Vua Mỏ Chim ! 
        Hai vợ chồng tiếp tục đi như thế cho đến khi họ bước vào một thành phố nguy nga tráng lệ. Công Chúa lại đặt câu hỏi "ai là chủ nhân?" và lại được chồng trả lời y như 2 lần trước:"Chủ nhân là Vua-Mỏ-Chim", rồi Công Chúa cũng lại rên rỉ như hai lần đó. Khi nghe vợ than thở, chàng hát dạo nổi giận: 
        - Ta đã chán nghe những lời tiếc nuối của nàng đối với một kẻ khác. Có phải nàng cho rằng ta đây không xứng đáng với nàng? 
        Cuối cùng họ đã đến trước một cái chòi nhỏ. Công Chúa la lên: 
        - Trời ơi, đây mà gọi là nhà ư? Cái nầy làm ra cho ai ở đây? 
        Chàng hành khất thản nhiên trả lời: 
        - Đây là nơi vợ chồng chúng ta sẽ cùng nhau sinh sống. 
        Công Chúa phải cúi khom người xuống để bước vào chòi vì cửa quá thấp. Công Chúa nhìn quanh hỏi: 
        - Những người hầu cận đâu cả rồi? 
        - Hầu cận? - Chàng hát dạo phá ra cười - chính nàng phải tự làm tất cả mọi việc mà nàng cần. Nhanh lên, đi nhóm lửa nấu nước rồi nấu cơm. Ta mệt quá rồi! 
        Nhưng Công Chúa đâu biết nhóm lửa là gì, làm bếp là gì nên chồng nàng phải tự làm hết. Sau khi ăn xong bữa cơm nghèo nàn, hai vợ chồng đi ngủ nhưng Công Chúa bị chồng bắt buộc hôm sau phải thức dậy từ tờ mờ sáng tinh sương để dọn dẹp "nhà cửa". 
        Cuộc sống của hai vợ chồng trôi qua như thế được vài ngày thì họ không còn gì để ăn nữa. Chàng hành khất nói với vợ: 
        - Này, chúng ta không thể tiếp tục ngồi ăn mà không làm việc như thế nầy nữa. Chúng ta sẽ làm rổ đem đi bán. 
        Rồi chàng đi ra rừng chặt mây về cho vợ. Công Chúa bắt đầu tập đan rổ, đôi bàn tay mỏng manh của nàng bị những cọng mây cứng ngắt gây thương tích khắp nơi. 
        Thấy vậy người chồng bèn nói: 
        - Xem chừng như nàng không thích hợp làm việc nầy. Ta nghĩ rằng nàng có thể làm nghề dệt vải. 
        Công Chúa ngồi vào khung cửi và dệt thử. Nhưng sợi chỉ cũng quá sắc làm những ngón tay mềm mại của nàng bị cứa đứt, máu rỉ rả tuôn ra. 
        Người chồng giận dữ nói: 
        - Nàng quả là vô dụng, không làm gì ra trò cả! Thôi được, ta sẽ thử làm nghề đồ gốm: bình đất, chậu đất, chén đất v.v.. Sau khi ta làm xong, nàng mang chúng nó ra chợ ngồi bán. 
        Trước quyết định của chồng, Công Chúa thầm than: 
        - Trời ơi, nếu các cận thần của cha ta đến chợ nầy và thấy ta đang ngồi bán hàng giữa chợ, chắc chắn họ sẽ nhạo báng ta. 
        Nhưng có than thở cũng vô ích thôi. Công Chúa phải làm theo lời chồng nếu nàng không muốn chết đói. 
        Mọi việc rất tốt đẹp ở lần đầu nàng ra bán hàng ở chợ. Mọi người chen nhau mua hàng của nàng vì nàng đẹp. Họ không mặc cả gì, sẵn sàng trả tiền theo giá nàng đưa ra. Thậm chí có người trả tiền rồi mà không lấy hàng. 
        Hai vợ chồng sống với số tiền đó cho đến khi cạn và người chồng tiếp tục làm những món hàng mới để vợ đem bán lần nữa. Công Chúa trở ra bày hàng ngay ở góc chợ. Thình lình một anh chàng say phi ngựa như bay đến chỗ nàng ngồi bán, dẫm vào những bình, chậu, chén, muỗng đất của nàng...Tất cả đều vỡ nát thành từng mảnh vụn. 
        Nàng Công Chúa khốn khổ bật khóc trước tình cảnh ấy. Công Chúa vô cùng sợ hãi vì không biết những bất hạnh nào sẽ xảy đến cho nàng nữa khi chồng nàng biết chuyện nầy. Nàng chạy về căn chòi kể cho chồng nghe chuyện không may ấy. 
        Chồng nàng kêu trời và nói: 
        - Có người nào ngu ngốc đến độ bày đồ gốm ngay góc chợ như nàng không hở? Thôi, ngưng khóc lóc đi ! Ta biết nàng không tháo vát nên ta đã vào xin với quan ngự trù của Vua Mỏ Chim cho nàng vào làm đầy tớ giúp việc ở nhà bếp của hoàng cung. Ông ấy đã nhận lời. Như vậy, ít nhất thì nàng cũng có cơm ăn ngày hai bữa rồi. 
        Thế là Nàng Công Chúa trở thành con sen trong nhà bếp, phải làm tất cả những công việc nặng nhọc nhất. Mỗi buổi tối, sau khi xong việc, nàng dồn đầy những thức ăn thừa vào hai cái bình mang về chòi. Nhờ những thức ăn đó, hai vợ chồng nàng được nuôi sống qua ngày. 
        Một thời gian sau, trong hoàng cung rộn rịp với lễ cưới của thái tử, con Vua Mỏ Chim. Nàng Công Chúa cơ cực của chúng ta nép sau cánh cửa ghé mắt nhìn vào cung điện dành cho buổi lễ trọng thể ấy. Trước cảnh huy hoàng tráng lệ đó, lòng nàng nặng trĩu, hối hận đã quá kiêu căng hợm hỉnh khiến cho số phận của nàng thay đổi từ một vị Công Chúa đầy uy quyền trở thành một người đầy tớ nghèo nàn. Những quan hầu cận của hoàng cung qua lại trước mặt nàng với những khay thức ăn thơm phức, thỉnh thoảng họ quăng cho nàng một vài miếng còn thừa và nàng lại cất trong 2 cái bình dấu trong 2 chiếc túi được thắt bên mình để mang về chòi như thường lệ. 
        Thình lình Thái Tử - với bộ lễ phục bằng nhung gấm giát đầy vàng ngọc- bước vào nơi nàng đứng. Bất chợt bắt gặp người thiếu nữ xinh đẹp núp sau cánh cửa, Thái Tử nắm lấy tay nàng dìu nàng vào phòng nhảy. Công Chúa chống cự dữ dội vì nàng vừa nhận ra Thái Tử là Ông-Vua-Mỏ-Chim mà nàng đã phỉ báng và chối bỏ. Sự chống cự của nàng quá vô ích, Thái Tử đã kéo nàng ra giữa phòng. Bỗng sợi giây đai buộc hai chiếc túi bị đứt ra và hai cái bình chứa đầy thức ăn lăn long lóc trên sàn: nước xúp và những mẩu thịt, mẩu bánh văng tung toé khắp nơi trước mắt những tân khách. Thế là họ được một trận cười thoả thích và có người đã buông ra lời chế nhạo nàng. Công Chúa thật quá xấu hổ muốn độn thổ biến mất ngay lập tức. Nàng nhảy một bước về phía cửa phòng để chạy trốn, nhưng nàng suýt rơi xuống chân thang lầu nếu không có một bàn tay giữ nàng lại. 
        Khi Công Chúa ngước nhìn người ấy thì hởi ôi, nàng lại bắt gặp khuôn mặt của Ông-Vua-Mỏ-Chim. Bằng một giọng dịu dàng, dễ mến, Ngài nói: 
        - Đừng sợ! Chàng hát dạo hành khất mang nàng về căn chòi của hắn chính là ta. Ta làm điều đó chỉ vì ta rất yêu qúi nàng và ta đã hoá trang để có thể cưới được nàng. Tên kỵ sĩ say làm nát tan hết mấy món đồ bằng đất của nàng ở chợ cũng chính là ta. Tất cả mọi việc xảy ra là để đánh gục sự kiêu căng của nàng và để trừng phạt sự phỉ báng mà nàng đã đối với mọi người cũng như đối với ta. 
        Nàng Công Chúa khóc mùi mẫn, bệu bạo nói: 
        - Lối xử thế của tôi quá tệ hại, tôi không xứng đáng làm vợ của Ngài. 
        Vua-Mỏ-Chim an ủi Công Chúa: 
        - Những ngày u tối đau buồn đã qua. Hôm nay là ngày trọng đại của chúng ta: ta sẽ chính thức cưới nàng làm vợ. 
        Rồi nhà vua ra lệnh các cung nữ trang điểm cho Công Chúa. Sau đó người ta thấy vị Hoàng Đế, cha của Công Chúa, bước vào với đoàn tùy tùng và cận thần. Mọi người cùng nhau chúc tụng Công Chúa trăm năm hạnh phúc với Ông-Vua-Mỏ-Chim.

    Nguồn VietFun.com

    Hoa mẫu đơn - Truyền thuyết và ý nghĩa

    Views:

    Theo Wikipedia - Tự điển Bách khoa Toàn thư: 
    Hoa mẫu đơn là một trong số các hoa đã được sử dụng lâu nhất trong văn hóa trang trí và là một trong các biểu trưng quốc gia của Trung Quốc. Cùng với hoa mai, nó là biểu tượng thực vật truyền thống của quốc gia này, tại đây người ta gọi nó là 牡丹 (mẫu đơn). Từ đời nhà Tống, hoa mẫu đơn đã được phong là "hoa vương". Năm 1903, nhà Thanh tuyên bố rằng mẫu đơn là quốc hoa. Hiện nay, Trung Hoa dân quốc tại Đài Loan đã chọn hoa mai (Prunus mume) là quốc hoa, trong khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không có quốc hoa chính thức. Năm 1994, hoa mẫu đơn đã được đề nghị làm quốc hoa sau một cuộc trưng cầu dân ý khắp toàn quốc, nhưng Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc đã thất bại trong việc thông qua sự lựa chọn này. Năm 2003, một quá trình lựa chọn khác cũng đã được bắt đầu, nhưng cho tới năm 2006 thì vẫn chưa có sự chọn lựa nào được đưa ra. Tuy nhiên đến năm 2010, loại hoa này đã được công nhận chính thức là "quốc hoa" của Trung Quốc.

    Thành phố cổ nổi tiếng Lạc Dương của Trung Quốc có danh tiếng như là trung tâm nuôi trồng các loài mẫu đơn. Trong lịch sử Trung Quốc, mẫu đơn của Lạc Dương luôn được coi là đẹp nhất. Hàng loạt các cuộc triển lãm hoa mẫu đơn cũng được tổ chức ở đây hàng năm.
    Tại Nhật Bản, Paeonia lactiflora đã từng được gọi là ebisugusuri ("y học ngoại quốc"). Trong hán phương (sự sửa đổi lại của y học cổ truyền Trung Hoa cho thích hợp với Nhật Bản), rễ của các loài mẫu đơn được dùng để điều trị chứng co giật. Nó cũng được trồng làm cây cảnh. Người ta cũng cho rằng Paeonia lactiflora là "vua của các loài hoa".
    Mẫu đơn cũng là loài hoa biểu trưng của bang IndianaMỹ. Năm 1957, Quốc hội bang Indiana đã thông qua một đạo luật để cho hoa mẫu đơn trở thành hoa biểu trưng của bang. Nó thay thế cho cúc zinnia là loài hoa biểu trưng của bang này từ năm 1931.
    Các loài mẫu đơn có xu hướng thu hút kiến tới các nụ hoa. Đó là do mật hoa được tạo ra ở bên ngoài các nụ hoa này.
    Những Tích Truyện Xa Xưa Về Hoa Mẫu Đơn
    Chuyện Thứ Nhất
    Ngày xưa… ở một làng miền núi có một bà mẹ. Bà mẹ sinh được mười người con trai. Làng của mẹ bị giặc chiếm đóng. Người cha của mười anh con trai bị giặc giết ngay từ ngày đầu tiên, khi chúng tiến vào làng. Mười người con trai của bà vào đội quân chống giặc ở trong núi. Người con trai cả là chủ tướng của đội quân. Đội quân nay đã làm cho bọn giặc thất điên bát đảo. Đã nhiều lần giặc mở những trận càn quét mà không sao tiêu diệt được đội quân của cái làng bé nhỏ ấy.

    Tên tướng giặc sai quân bắt bà mẹ đến, hắn bảo:
    – Này mụ già, mụ hãy khuyên các con mụ trở về. Ta sẽ cho con mụ làm tướng. Bằng không, ta sẽ giết mụ.
    Bà mẹ nhìn thẳng vào mắt tên tướng giặc, nói lớn:

    – Hỡi quân độc ác! Hẳn nhà ngươi cũng có một bà mẹ. Mẹ ngươi chắc không bao giờ dạy người phản bội lại quê hương. Là một người chân chính, ta cũng không thể dạy các con ta phản bội lại quê nhà.
    Bọn giặc trói mẹ trên một ngọn đồi rồi cho quân mai phục hòng bắt được những người con của mẹ đến cứu. Chúng bảo bà mẹ hãy đứng dậy mà gọi con, chúng sẽ tha. Tiếng người mẹ:
    – Hỡi các con của mẹ! Hỡi những người con của quê hương. Ta nhân danh người mẹ, ra lệnh cho các con không được vì ta mà phản bội quê hương.
    Mệnh lệnh của người mẹ là mệnh lệnh trái tim, mệnh lệnh của tình yêu vĩ đại. Mệnh lệnh đó lan khắp núi rừng. Bọn giặc run sợ. Những người con của mẹ thì thêm sức mạnh chiến đấu. Giặc bịt miệng bà mẹ. Chúng đổ nhựa thông và nhựa trám lên đầu bà và châm lửa đốt. Ngọn lửa cháy sáng cả một vùng
    Khi bọn giặc đi rồi, dân làng lên đồi tìm chỗ bà mẹ bị hành hình, người ta thấy trái tim của người mẹ vẫn nguyên vẹn và nóng bỏng. Dân làng chôn mẹ ngay trên đỉnh đồi. Đêm đêm, từ ngôi mộ, trái tim mẹ vẫn phát sáng cả một vùng trời.
    Mùa xuân đến. Từ ngôi mộ, trái tim ấy mọc lên một cái cây. Cây ra hoa. Bông hoa đỏ chót hình ngọn lửa bốc lên từ trái tim người mẹ. Và cũng từ ngày ấy có một loại hoa mang tên Mẫu Đơn. Cây hoa tượng trưng cho người mẹ đã chiến đấu bằng một trái tim…
    Chuyện Thứ Hai
    Chuyện kể rằng, vào đời Đường Cao Tông, do say đắm Võ Hậu, lúc Vua băng hà do con trai (Hoàng Thái Tử) còn nhỏ, Võ Hậu chuyên quyền nhiếp chánh hãm hại công thần, tự xưng vương, đổi nhà Đường thành nhà Đại Châu, xưng hiệu Võ Tắc Thiên hoàng đế. Một hôm, Võ Tắc Thiên (được biết nhiều qua phim ảnh dã sử của Trung Hoa) khi ngự du vườn thượng uyển nhìn cỏ cây xác xơ, trơ trọi liễu đào, ủ rũ điêu tàn, liền truyền lệnh bằng bài tứ tuyệt khắc ngay cửa vườn:
    Lai triều du thượng uyển – Hỏa tốc báo xuân trị

    Bách hoa liên dạ phát – Mạc đãi hiểu phong xuỵ

    Dịch nghĩa:

    Bãi triều du thượng uyển – Gấp gấp báo xuân haỵ
    Hoa nở hết đêm nay – Đừng chờ môn gió sớm.

    Linh ứng thay! Trăm hoa phụng mệnh, chỉ trong một đêm bừng nở khắp vườn, mùi thơm sực nức nhân gian! Rạng sáng hôm sau, Võ Tắc Thiên dạo vườn trông muôn hồng ngàn tía ngoan ngoãn đua chen nở rộ, lấy làm tự mãn cho rằng quyền uy tột đỉnh. Bất giác, bà Chúa bạo dâm Võ Tắc Thiên nhìn cây Hoa Mẫu Đơn bất tuân thượng mệnh, thân cây khẳng khiu cứng cỏi, không hoa lá. Giận thay cho loài hoa ngoan cố, Võ Tắc Thiên ra lệnh đày Mẫu Đơn xuống tận Giang Nam (!). Nhưng lạ thay, khi tới vùng đất nghèo nàn hơn hoa lại nở rộ và vẻ đẹp luôn rực rỡ làm đắm đuối lòng người, và từ đó ngay cả sử sách Trung Hoa cũng ghi nhận vùng Giang Nam luôn xuất hiện nhiều tuyệt sắc giai nhân, những mỹ nữ có sắc đẹp nghiêng thành đổ nước. Cũng từ đó, vùng Giang Bắc thiếu vắng loài hoa vương giả, một biểu trưng cho quốc sắc thiên hương…
    Người đương thời thấy vậy dệt bài Phú Ngọc Lâu Xuân Tứ nhằm thương hại và tán thán vẻ đẹp, sự khẳng khái của hoa Mẫu Đơn, thà chịu cảnh phong trần lưu lạc tự giải phóng cuộc đời chớ không làm vương giả chốn kinh đô, chịu giam mình trong vườn hoa tù hãm của bạo chúa, đem sắc đẹp hương thơm ban rải cho mọi người để được dự phần thanh cao.
    Về sau người ta dùng từ “quốc sắc thiên hương” (sắc nước hương trời) để hình dung hoa mẫu đơn. Hoặc có cách phác họa khác là: “Thiên hạ chân hoa độc mẫu đơn” (chỉ có mẫu đơn mới xứng đáng là hoa thật trong thiên hạ).
    Những Thông Tin Thú Vị Về Hoa Mẫu Đơn
    Khi những nhà truyền giáo đạo Phật đến Nhật Bản, họ đã đem theo kiến thức về những bông hoa Mẫu đơn này. Người Nhật luôn là một dân tộc yêu hoa, nên bông hoa đẹp mới đến nhanh chóng trở thành một phần trong văn hóa của họ. Mẫu đơn là bông hoa của Tháng Sáu ở Nhật Bản. Từ Trung Hoa và Nhật Bản, nó chu du sang tận đỉnh núi Olympus, tìm cho mình một cái tên.
    Tên tiếng Việt : Hoa Mẫu Đơn

    Tên Hồng Kông : Sho-Yo (hay Shao-Yao)
    Tên tiếng Anh : Peony
    Tên tiếng Pháp : Pivoine officinale
    Tên Latin : Paeonia officinalis
    Tên khoa học : Paeonia lactiflora
    Họ : Paeoniaceae

    Peony được đặt tên theo Paeon, một thầy thuốc học trò của Thần Y Asclepius trong thần thoại Hy Lạp.Ông được nữ thần Leto (mẹ của thần Mặt Trời Apollo) mách bảo cách lấy được chiếc rễ thần kỳ mọc trên đỉnh Olympus mà nó có thể xoa dịu được cơn đau của người phụ nữ khi sanh nở. Asclepius trở nên ghen tức với Paeon. Để cứu Paeon thoát chết vì sự phẫn nộ của Asclepius, thần Zeus đã biến ông thành một bông hoa Mẫu đơn.
    Ngày nay, Mẫu đơn là biểu tượng của sự thịnh vượng, phồn vinh. Từ xa xưa, loài hoa vương giả này chỉ thuộc sở hữu của giới quý tộc giàu có ở Hồng Kông. Bông hoa quốc sắc thiên hương này từng rất được ưu ái qua nhiều triều đại, với mệnh danh “Chúa của muôn hoa”. Nhất là giai đoạn từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 13 sau Công Nguyên. Mẫu đơn được ca tụng trong văn thơ, nhạc và tranh vẽ lúc bấy giờ.
    Thành phố Lạc Dương (tiếng La Tinh là Luoyang, 1 trong 4 thành phố cổ kính nhất Hồng Kông), nổi tiếng về nhiều chủng loại Mẫu đơn phong phú, rực rỡ sắc màu nhờ thời tiết ôn hòa và đất đai thích hợp. Ngày 21/9/1982, người dân Luoyang chính thức chọn Mẫu đơn là biểu tượng hoa của thành phố mình. Tháng 4 là tháng của Hoa Mẫu Đơn, thật sự là mùa vui cho những người yêu hoa ở xứ sở này. Hoa Mẫu đơn nở đẹp lộng lẫy, hương thơm, sắc màu hoa hiện diện khắp nơi trong thành phố. Và lễ hội Mẫu đơn Louyang – Luoyang Peony Festival được tổ chức từ 15/4 – 25/4 hằng năm là một lễ hội văn hóa lớn, niềm tự hào của cư dân Luoyang. Suốt mùa lễ hội, tưng bừng những đèn lồng sặc sỡ, các hoạt động kinh tế cũng khá nhộn nhịp, không khí vui tươi và gây một ấn tượng sâu sắc cho tất cả các du khách trên khắp thế giới đến chơi. Ở Luoyang có những loài Mẫu đơn quý hiếm, màu sắc thay đổi lạ, hay cả những bông hoa lớn đến hàng trăm cánh, sống đã hàng trăm tuổi.
    Hoa Mẫu Đơn là nguồn cảm hứng nghệ thuật:
    Các loài hoa luôn tô điểm cho đời nhưng chỉ duy Mẫu Đơn khiến ai ngắm nhìn cũng phải xúc động vì vẻ sang trọng huyền bí và lộng lẫy của nó. Sự đối lập sâu sắc khiến hoa Mẫu Đơn trở thành nguồn cảm hứng rất lớn trong nghệ thuật thi ca, hội họa, điêu khắc, … và “Quốc sắc thiên hương” là từ được dùng để mỗi khi nói về loài hoa Mẫu Đơn.
    Trong nghệ thuật thi ca, có rất nhiều bài thơ viết về hoa Mẫu Đơn trong đó nổi bật nhất là câu thơ “Thiên hạ chân hoa độc Mẫu Đơn” – chỉ có hoa Mẫu Đơn mới xứng là thật hoa trong thiên hạ.
    Ngoài ra hoa Mẫu Đơn còn được sử dụng như một hoa văn trang trí trong kiến trúc cung đình, kiến trúc trang trí thời xưa; hình ảnh hoa Mẫu Đơn được in lên quần áo trang trí tượng trưng cho thân phận và quyền lực của người phụ nữ tôn quý nhất.
    Trong nghệ thuật ca múa, điệu múa tái hiện hình ảnh hoa Mẫu Đơn vừa e ấp, thanh tao nhưng lại nồng nàn đầy quyến rũ khiến đế vương lạc lối.
    Hoa Mẫu Đơn trong phong thủy:
    Hoa mẫu đơn từ lâu đã được tôn vinh là Nữ hoàng của các loài hoa. Bởi vậy, dưới chế độ phong kiến Trung Quốc, hoa mẫu đơn chỉ được trồng trong vườn thượng uyển, dân thường không được phép trồng. Hoa mẫu đơn khoe sắc tô điểm cho chốn cung đình hoa lệ và thường được ví với các bậc mỹ nhân, ái phi của vua chúa.
    Chính vì ý nghĩa đó, ngày nay tranh hoa mẫu đơn được nhiều gia đình treo trong nhà với mong muốn có được cuộc sống giàu sang, quyền quý. Không chỉ tượng trưng cho cuộc sống phú quý, trong quan niệm phong thủy hoa mẫu đơn còn tượng trưng cho sự chung thủy, hạnh phúc trong tình yêu.
    Khanhnguyen' s Blog Tổng hợp
    BACK TO TOP