Chương mục lựa chọn

  • Trang chủ
  • Kỹ thuật tin học
  • Mạng Xã hội
  • Tiện ích
  • Truyện hay
  • Site Map
  • Email this page
  • Print Friendly and PDF
  • Hiển thị các bài đăng có nhãn triết học và tôn giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
    Hiển thị các bài đăng có nhãn triết học và tôn giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

    Thế giới quan triết học của các nhà nho trong xã hội phong kiến Việt Nam

    Views:




    Thạc sĩ Triết học Phạm Thị Loan




    Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh

     - Tạp chí Triết học

    03:33' PM - Thứ tư, 15/10/2014
    Bài viết góp phần hệ thống hóa và phân tích thế giới quan triết học của các nhà Nho trong xã hội phong kiến Việt Nam, trong đó tập trung vào các khía cạnh cơ bản: quan niệm của các nhà Nho về trời, mệnh và mệnh trời, đặc biệt là quan niệm về con người, về mối quan hệ giữa con người với trời đất. Theo tác giả, với nhiều nhà Nho Việt Nam thời phong kiến, con người không hoàn toàn bị chi phối, khuất phục bởi mệnh và mệnh trời; trái lại, con người có thể cải biến mệnh nhờ vào sự nỗ lực của bản thân mình.



    Theo con đường xâm lược của các triều đại phong kiến phương Bắc và sau này là con đường giao lưu văn hóa, Nho giáo từ khi du nhập vào Việt Nam đã trải qua một quá trình biến đổi lâu dài và đầy khó khăn để có thể tồn tại, ăn sâu, bám rễ vào trong đời sống xã hội của dân tộc. Cho đến thời kỳ xây dựng nhà nước phong kiến độc lập, tự chủ, Nho giáo mới được tiếp biến và dần trở thành hệ tư tưởng thống trị trong kiến trúc thượng tầng của xã hội phong kiến Việt Nam suốt nhiều thế kỷ sau đó. Vị trí quan trọng này đã đưa Nho giáo với hệ thống những nguyên tắc chính trị - xã hội và các tín điều đạo đức khắt khe lan tỏa, thâm nhập và ảnh hưởng sâu rộng đến mọi tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là các nhà Nho - những người được xem là tầng lớp có vai trò và uy tín nhất trong xã hội, là rường cột của chế độ phong kiến. Với tư cách một học thuyết chính trị - đạo đức, Nho giáo không chỉ thể hiện ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các nhà Nho Việt Nam trong tư duy chính trị, trong quan điểm nhân sinh và lối sống đạo đức, trong tư tưởng giáo dục hay phong cách văn chương, nghệ thuật mà còn cả trong thế giới quan của họ. Trong xã hội phong kiến Việt Nam, thế giới quan triết học của các nhà Nho biểu lộ sự ảnh hưởng rõ nét của Nho giáo thông qua quan niệm của họ về trời đất, về mệnh trời, con người, về mối quan hệ giữa con người và trời đất.



    Trước hết, trong quan niệm của hầu hết các nhà Nho trong xã hội phong kiến Việt Nam, “trời” được xem như một lực lượng thần bí, siêu nhiên sáng tạo và chi phối các sự vật, hiện tượng, quyết định vận mệnh vạn vật. Nhà Nho Nguyễn Phi Khanh (1335-1428) đời Trần đã viết: “Trời là gì? Là cái chí thanh, chí hư, chí đại đó thôi, bốn mùa thành năm mà không tỏ ra có công, vạn vật chịu ơn mà không lộ rõ dấu vết”(1). Nguyễn Trãi (1380 -1442), một nhà Nho với tài năng nổi bật trên nhiều lĩnh vực khác nhau, như chính trị, quân sự, ngoại giao, văn học, sử học, địa lý… cũng khẳng định rằng, “trên có trời đất quỷ thần”(2) và vạn vật sinh sôi là do “ơn tạo hóa của trời đất”. Ngô Sĩ Liên - nhà sử học xuất sắc thời Lê và là nhà Nho có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với tư tưởng của xã hội đương thời - đã đưa ra khá nhiều lời bình luận lịch sử thể hiện rõ ảnh hưởng của Nho giáo tới thế giới quan của ông, trong đó có tư tưởng về trời, mệnh trời. Trong quan niệm của mình, Ngô Sĩ Liên cũng coi trời như đấng tạo hóa sản sinh ra muôn vật: “Khi trời đất mới mở mang, có thứ do khí hóa hóa, đó là Bàn Cổ thị. Có khí hóa ra rồi sau có hình hóa, không thứ gì ngoài hai khí âm dương cả. Kinh Dịch nói: “Trời đất nung ủ, vạn vật thuần hóa, đực cái hợp tinh, vạn vật hóa sinh”. Cho nên có vợ chồng rồi sau mới có cha con, có cha con rồi sau mới có vua tôi”(3). Còn với Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585), trời như lực lượng tự nhiên tạo ra mọi vật, chi phối các sự vật, hiện tượng và con người, ngay cả tính con người cũng là do “trời phú”: “Trời phú tính ở mình ta, Đạo cả cương thường năm mấy ba” (Thơ Nôm).



    Khi quan sát sự vận động, biến đổi của thế giới, Ngô Thì Nhậm (1746 -1803) đã nhận ra nguồn gốc đằng sau đó chính là sự tồn tại của một vị “hóa công" mà về thực chất, là tên gọi khác của “trời”. Theo ông, nhờ có hóa công hay trời mà vạn vật được sinh sôi nảy nở và có một trật tự ổn định, không có gì là không do trời sinh ra, từ đất đai, làng mạc cho đến những con người xuất chúng: “Trời sinh hào kiệt Đẩu, Thai gần. Đường qua ghi những làng danh nổi” (Nghệ An đạo trung).


    Cùng với quan niệm xem trời như là đấng tạo hóa của muôn vật, các nhà Nho trong xã hội phong kiến Việt Nam còn nhìn nhận “trời” như một vị thần tối cao, có ý chí, có tình cảm, có thể có thể phù hộ, giám sát và trừng phạt con người. Theo Nguyễn Trãi, “trời đất đa tình” và tình cảm của trời đất cũng giống như tấm lòng của cha mẹ: “Thành thực yêu vật là lòng trời đất; thành thực yêu con là lòng cha mẹ. Nếu yêu vật thành thực thì cơ sinh hóa có lúc đình, yêu con không thành thực thì niềm từ ái có khi thiếu. Vì thế, nên trời đất đối với muôn vật, cha mẹ đối với con cái, chẳng qua chỉ một chữ “thành” mà thôi”(4). Nguyễn Bỉnh Khiêm thì tin rằng trời hết sức công bằng, mưu trí của con người chưa chắc đã thắng được sự công bằng đó: “Nẻo trời có sinh thì có dưỡng. Dễ hầu nằm giữa mất phần chăng?” (Thơ Nôm). Lê Quý Đôn (1726 -1784) cũng quan niệm về trời không phải như giới tự nhiên, mà như một chủ thể có ý chí, có nhân cách, quyết định mọi việc: “Trời thì không có hơi có tiếng, không có mùi vị, nhưng khi giáng lâm thì thật hiển hách” (Vân đài loại ngữ). Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du (1766 - 1820) đã thể hiện quan niệm của mình về một ông trời với quyền năng vô hạn: “Bắt phong trần phải phong trần/ Cho thanh cao mới được phần thanh cao”. Đó là một ông trời có nhân cách, có cảm xúc, ghen ghét cả với người có nhan sắc: “Lạ gì bỉ sắc tư phong. Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”...

    Những quan niệm đó về một ông trời có nhân cách, có tình cảm còn xuất hiện ở nhiều nhà Nho thế kỷ XIX, trong đó có Nguyễn Đức Đạt (1823 - 1887). Trong Nam sơn tùng thoại, ông viết: “Hỏi: Cha yêu con, vua yêu tôi, có giống không? Đáp: Giống. Cha nuôi con, cho ăn uống là nhân, cho roi vọt cũng là nhân. Vua ban tước cho bề tôi là nhân, quở phạt cũng là nhân. Hỏi: Trời có giống thế không? Trời đối với vạn vật thì cho mưa móc, có khi cho sấm sét; đối với dân, thì có khi cho được mùa và vui vẻ, có khi giáng dịch lệ hung hoang, có khi cho tai dị để khiển trách, nhưng rốt cuộc cũng là lòng yêu cả” (thiên “Tư luận”).

    Xuất phát từ quan niệm xem trời như là vị thần tối cao có ý chí, có nhân cách, các nhà Nho trong xã hội phong kiến Việt Nam đã đi đến tư tưởng về mệnh, mệnh trời. Mệnh hay mệnh trời chính là ý chí, sức mạnh của trời chi phối trật tự xã hội, tự nhiên và số phận của con người. Chu Văn An (1292 -1370) đã quan niệm rằng, người ta sinh ra ở đời, mỗi người đều có số mệnh do trời an bài, giàu nghèo là do trời định, con người mong ước cũng không được: “Nhà tranh hay nhà ngọc, đều có số mệnh”(5). Điều này cũng tương tự như việc ông ra làm quan hay không làm quan đều có liên hệ đến số mệnh cả, do vậy, ông cảm thấy thanh thản, ung dung, tự tại với cuộc sống của mình. Nguyễn Phi Khanh thì cho rằng, con người sống và làm việc phải theo “lẽ trời”, vì thế việc “xuất” hay “xử” của nhà Nho không phải là tùy tiện theo ý mình mà phải tuân thủ ý trời, phải theo lẽ trời. Có thể thấy, đối với các nhà Nho, mọi việc diễn ra từ việc lớn đến việc nhỏ, từ việc xã hội, của đất nước đến việc của đời người đều là do trời chi phối. Đây cũng chính là quan niệm của Nguyễn Trãi về mệnh trời. Với ông, sự biến đổi của một triều đại, sự thịnh suy của một đất nước đều liên hệ đến trời. Không chỉ vận nước hay mệnh vua mà cả sự thành hay bại, sang giàu hay đói rách của con người, theo Nguyễn Trãi, cũng do trời quy định: “Đời người muôn việc thảy do trời”; “mới biết doanh hư là có số, ai mà cãi được lòng trời”. Chính vì thế, ông luôn tâm niệm: “Sang cùng khó bởi chưng trời, lăn lóc làm chi cho nhọc hơi” hay “Vắn dài, được mất dầu thiên mệnh, Trãi quái làm chi cho nhọc nhằn”(6).

    Bên cạnh đó, thời kỳ này, tư tưởng về “trời” và “mệnh trời” cũng được thể hiện khá rõ nét ở các nhà Nho đồng thời là những nhà sử học thời Lê - những người biên soạn lịch sử chủ yếu dựa trên hoạt động của các vị vua và coi các hoạt động đó là thể hiện ý chí của trời. Nhà sử học Phan Phu Tiên đã nhận xét: “Nhà Trần dựng nước vào năm Kiến Trung (1225), mất nước vào năm Kiến Tân (1400). Quân Minh vượt sông vào ngày 12 tháng 12 năm Bính Tuất (1406), cũng phải rút về nước ngày 12 tháng 12 năm Đinh Mùi (1472). Dẫu rằng mưu người chẳng nên, âu cũng là vận trời có số cả. Kể ra, Thái Tông tên huý là Cảnh, Thiếu Đế tên húy là An, nét chữ gần giống nhau. Quân Minh khi vượt sông, lúc về nước, đều gặp ngày 12 tháng 12, có phải là tình cờ mà không do số trời đâu”(7). Ngô Sĩ Liên cũng cho rằng, việc Tiền Lý Nam Đế dấy binh trừ bạo gặp bại vong, việc nhà Lý được hay mất nước nước đều là do mệnh trời đã định. Do đó, theo ông, việc họ Hồ giết Trần Thuận Tông để cướp ngôi là việc làm của bọn loạn thần cũng không thể có kết cục tốt đẹp được, bởi vì “bọn phạm tội đại ác làm sao trốn được sự trừng phạt của trời? Đạo trời rõ ràng như vậy, đáng sợ thay!”(8).

    Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, cục diện nội chiến, chia cắt, chiến tranh loạn lạc của đất nước đã ảnh hưởng mạnh đến tư tưởng của các nhà Nho. Sự thay thế của các vương triều và sự biến đổi nhanh chóng của số phận con người làm cho các nhà Nho thời kỳ này, như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Khoan, Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm… cảm thấy bất lực trước thời cuộc và do đó, họ càng tin tưởng vào ý trời, mệnh trời và sự phụ thuộc của con người vào mệnh trời. Họ còn dựa vào các luật biến dịch, tuần hoàn trong Kinh Dịch - cơ sở của Lý học thời Tống - để giải thích sự biến đổi xã hội, sự hưng suy của thời cuộc. Trong quan niệm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tất cả là do số, do mệnh, do trời chi phối, con người không thể làm gì được: “Được thua phú quý đều thiên mệnh. Chen lấn làm chi cho nhọc nhằn” (Thơ Nôm).(7)

    Nguyễn Dữ và Phùng Khắc Khoan - hai học trò giỏi của Nguyễn Bỉnh Khiêm dưới triều Mạc và Lê, vừa chịu ảnh hưởng từ thầy, vừa chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo nên thế giới quan của họ thể hiện rõ nét tính chất duy tâm thần bí. Nguyễn Dữ cho rằng, mọi thứ đều do trời, do số mệnh quy định: “Phú quý không thể cầu nghèo cũng do tự số” (Chuyện tướng Dạ Xoa). Trong các truyện của ông cũng mô tả rất nhiều về quỷ quái, về những hiện tượng thần bí, dị kì. Phùng Khắc Khoan cũng thừa nhận có mệnh trời, nhưng theo ông, không phải vì thế mà con người hoàn toàn phải chịu phục tùng ý trời. Từ đó, ông khẳng định tính tích cực sáng tạo của con người để xoay chuyển tình thế: “Sự vinh hiển do mệnh trời sắp đặt sẵn. Xưa nay trong mái nhà tranh lẽ nào lại không có công danh” (Vinh tiến an bài thiên mệnh định, Cổ lai bạch ốc khởi công danh - Bệnh trung thư hoài). Ngô Thì Sĩ (1726 -1780) thì tin tưởng và khẳng định tất cả là do ý trời, mệnh trời quy định: “Người ta sinh ra đều có mệnh... mệnh là trời phú cho” (Anh Ngôn thi tập). Lê Quý Đôn cũng quan niệm rằng, mệnh trời không thể lường hết được những việc lớn việc nhỏ chưa bao giờ là không tiền định. Thuyết tiền định người xưa thường nói đến đã thấy chép trong kinh sử (Vân đài loại ngữ).

    Đến thế kỷ XIX, Nho giáo được nhà Nguyễn khôi phục vị trí độc tôn trên vũ đài chính trị, tư tưởng. Các nhà Nho thời kỳ này chịu ảnh hưởng rất sâu sắc quan niệm của Hán Nho và Tống Nho về trời, mệnh trời, số, về âm dương, ngũ hành, lý, khí. Hầu hết họ đều đề cập tới trời, tin tưởng vào ý trời, vào “mệnh trời”. Nguyễn Du tâm niệm: “Ngẫm hay muôn sự tại trời”. Theo đó, sự thành bại của cuộc đời con người cũng là do trời định mà Nguyễn Du gọi đó là “cơ”, tức là cơ trời và ông nhấn mạnh: “Cho hay thành bại là cơ” (Chiêu hồn thập loại chúng sinh). Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858) khi đề cập đến thân phận của kẻ hàn nho cũng cho rằng, khó bởi tại trời, giàu là cái số” và theo ông, chỉ có người tài giỏi mới biết được mệnh trời và thời thế. Nguyễn Thông (1827 - 1884) - một nhà Nho yêu nước có ảnh hưởng lớn ở miền Nam nước ta thế kỷ XIX - cũng khẳng định rằng, “mọi việc trong thiên hạ cái thích mà có thể làm được là thuộc về người, cái thích mà không thể làm được là thuộc về trời, thuộc về người là việc tới sau, thuộc về trời là lẽ định trước”(9).

    Cùng với các vấn đề về trời, mệnh trời, vấn đề về con người là lĩnh vực mà các nhà Nho trong xã hội phong kiến Việt Nam hết sức quan tâm. Theo họ, sự sinh thành, biến đổi của con người và xã hội loài người cũng không nằm ngoài sự biến hóa của trời, đất. Nguyễn Bá Tĩnh - nhà Nho, nhà y học nổi danh đời Trần đã nói rằng, "Tam tài là trời, đất, người. Con người chịu được chỉnh khí của trời đất, tinh khôn hơn vạn vật"(10). Nguyễn Bỉnh Khiêm sau này cũng khái quát điều đó bằng thơ: "Thái cực từ khi mới phân chia đã phân định rõ vị trí của tam tài. Trong và nhẹ bay lên trên làm trời, nặng và đục lắng xuống làm đất. ở giữa kết tụ lại thành người. Bẩm thụ cùng một khí" (Cảm hứng). Còn Lê Hữu Trác (1720 - 1791) trong bộ sách Y tông tâm lĩnh cũng khẳng định: "Muôn vật trong trời đất... không một loài nào là không bẩm thụ khí âm dương để thành hình" (tập Y hải cầu nguyên). Do đó, theo ông, "người ta sinh ra khoảng giữa hai khí [âm, dương] của trời đất thì trong thân thể con người cũng đủ hình thái cực, há không nên lưu tâm xem xét đó sao?" (tập Huyền tẫn phát vi). Như vậy, con người được sinh ra do sự giao hòa của trời và đất, sự xuất hiện của con người được xem như là sự kết tinh tại một vị trí trung gian giữa trời và đất. Do đó, trong mối quan hệ này, con người đóng vai trò hết sức quan trọng, có thể làm thay đổi bộ mặt của trời đất như trong quan niệm của Ngô Thì Nhậm: “Hẳn trời đất mở mang ra chừ, mượn tay người mà chuốt gọt. Tiên được cảnh mà thành danh chừ, cảnh có người nên tươi tốt”(11). Với ý nghĩa đó, các nhà Nho trong xã hội phong kiến Việt Nam đã đưa ra quan niệm của mình về mối quan hệ gắn bó giữa trời đất và con người.

    Về mối quan hệ giữa trời đất và con người, các nhà Nho trong xã hội phong kiến Việt Nam đều khẳng định trời và người không phải tách rời nhau như hai thực thể đối lập mà có liên hệ mật thiết với nhau, có thể thấu hiểu, giúp đỡ hoặc hóa giải nạn tai cho con người nếu con người thật sự có thành ý và chân thành khấn xin làm cho trời cảm động. Về thực chất, đây cũng chính là nội dung của các thuyết “thiên nhân tương đồng”, “thiên nhân cảm ứng”, "thiên nhân hợp nhất" mà Hán Nho đã đưa ra. Các nhà Nho Việt Nam đều quan niệm quyền lực của vua là do trời trao cho để thực hiện ý chí của trời, vị vua ấy phải thường xuyên chăm lo công việc trị nước, cai quản muôn dân và quan sát những biến đổi của trời đất để xem việc mình làm có thuận theo ý trời hay không. Nếu việc làm của vua trái với ý trời, trời sẽ hiện ra những điềm tai biến để cảnh báo, như lụt lội, hạn hán, bệnh dịch,... và vua phải theo đó mà điều chỉnh việc làm của mình, thành ý cầu xin trời thì mới mong chấm dứt được tai biến. Ví như Nguyễn Phi Khanh, ông cho việc hạn hán là do trời giáng tội xuống nhân gian và chịu tội trước hết là vua, vua chịu tội với trời thì được nhân hòa, nhân dân thấm khắp niềm vui. Do đó, chỉ cần nhà vua “có lòng chí thành” để tu thân sửa đức thì có thể “cảm đến trời”, khiến cho trời ban điềm lành xuống muôn dân. Đúng như hàm ý trong bài thơ của ông về việc chuẩn bị cầu mưa của vua quan nhà Trần: “Rừng rực đất đai khắp nơi khô cháy, một trận mưa của trời gieo khắp ơn sâu. Quốc gia sắp làm lễ thỉnh tội để cầu mưa trọng thể, trời đem lại khí hòa, dân đã thấm khắp niềm vui. Rồng nằm vốn là con vật của nhân gian, tiếu tượng của trời có thể hẹn mưa dầm trong năm hạn. Chẳng phải dùng làm gì cái lẽ đưa một thân hình gầy còm ra phơi ngoài chợ, xưa nay chỉ có lòng chí thành là cảm đến trời”(12).

    Ngô Sĩ Liên cũng quan niệm rằng, trời cai quản và quyết định tất cả mọi việc trên thế gian, còn vua là người thực thi ý chí của trời. Trời giám sát mọi hành động của vua, nếu thuận theo ý trời thì được hưởng phúc lành, mưa thuận gió hòa, xã tắc được yên ổn; trái lại, trời sẽ “răn bảo” bằng hạn hán, lụt lội, tai biến. Vì thế, người nắm vương quyền phải biết quan sát các hiện tượng tự nhiên mà hiểu được ý trời, mệnh trời, đoán biết ý khen chê, khuyến khích hay quở trách của trời. Ông viết: “Trong khoảng trời đất, chỉ có hai khí âm dương mà thôi. Người làm vua đạt đến mức trung hòa thì đất trời định vị, vạn vật sinh sôi và hai khí cũng được đều hòa. Nếu khí âm thịnh mà phạm bừa vào khí dương, thì trời đất tất xuất hiện tai biến để tỏ cho người làm vua biết. Cho nên tai biến xuất hiện trước rồi sau đó sẽ có chứng nghiệm ngay. Lúc bấy giờ, nào nhật thực, nào mặt trời lay động, nào đất nứt, nào mưa đá, sao sa, đều là khí âm thịnh hơn là khí dương cả. Phàm người làm vua thận trọng trước sự răn bảo của trời, lo lắng làm hết phận sự của người thì đó là đạo vãn hồi tai biến của trời”(13). “Đạo vãn hồi tai biến của trời” mà Ngô Sĩ Liên đã đề cập, về thực chất, là nỗ lực của con người để giải quyết những khó khăn trước khi trời giúp, nếu con người chưa làm hết chức phận của mình thì không thể nói đến chuyện trời giúp. Bởi vậy, theo ông, “Tiên Hoàng không được trọn đời là do chưa làm hết việc người, không phải mệnh trời không giúp”(14). Chỉ với sự nỗ lực của mình, với những hành động hợp lẽ phải, có lòng chí thành thì mới đạt được kết quả tốt, mới mong có sự giúp đỡ của trời. Bởi một lẽ đơn giản: “Lòng tin thành thực cảm thông đến cả vàng đá, huống nữa là trời? Việc gì trời đã giúp sức là thuận”(15). Có thể thấy, tuy Ngô Sĩ Liên tin ở trời và mệnh trời nhưng ông cũng hết sức đề cao sự nỗ lực và hành động tích cực để vượt qua khó khăn của con người. Quan niệm đó cũng được thể hiện ở các nhà Nho, nhà sử học khác sau này, như Vũ Quỳnh (đỗ tiến sĩ năm 1478), Lê Tung (đỗ tiến sĩ năm1484), Lê Hy (đỗ tiến sĩ năm 1664).

    Thế kỷ XVI - XVIII, hầu hết các nhà Nho cũng cho rằng, giữa trời và người có sự thống nhất với nhau. Nguyễn Bỉnh Khiêm đưa ra quan niệm “thiên nhân tương dữ hựu tương phù” (trời và người cùng quan hệ với nhau lại cùng phù hợp với nhau). Tuy vậy, quan niệm của ông phần nhiều khác với quan niệm “thiên nhân tương dữ”, “thiên nhân cảm ứng” của Đổng Trọng Thư. Ông nói rằng, “sinh ý vô tư, vạn vật đồng” (cái ý sinh thành của trời không có thiên tư, muôn loài đều như nhau cả). Nguyễn Dữ, trong các truyện của Truyền kỳ mạn lục, đã thể hiện sự tin tưởng sâu sắc vào trời, vào quyền uy của trời, vào cái gọi là “thiên nhân cảm ứng”. Vì thế, theo ông, “làm thiện ở người, giáng phúc cho người thiện ở trời, sự cảm ứng ở giữa khoảng trời và người thật là sâu mờ vậy thay” (Chuyện gã Trà đồng giáng sinh). Lê Quý Đôn cũng thường đề cập đến mối quan hệ thống nhất giữa trời và con người trong tác phẩm của mình: “Người ta cùng với trời đất là một gốc; suốt ngày động tác ăn uống, càng cùng với khí đất cùng chung đụng” (Vân đài loại ngữ). Ông đã quy con người và tự nhiên về một mối và gắn tất cả trong mối quan hệ với trời.(13)

    Nhìn chung, thế giới quan các nhà Nho trong xã hội phong kiến Việt Nam chịu ảnh hưởng khá sâu sắc bởi những quan niệm duy tâm của Nho giáo nói chung, đặc biệt là của Hán Nho và Tống Nho. Sự tác động mạnh mẽ của tư tưởng về trời, mệnh trời của Nho giáo đã khiến họ giảm sút tinh thần phản kháng trước những bất công của triều đình. Bởi lẽ, họ cho rằng trời chi phối mọi hoạt động của con người, trời trao quyền cho vua cai quản thiên hạ, trời không chỉ quyết định sự thịnh suy của một triều đại mà còn quyết định sự thắng lợi của một cuộc khởi nghĩa, giàu sang nghèo hèn, vinh nhục, sống chết của một con người, biết được những suy nghĩ và hành động của con người để ban thưởng hay trách phạt, giáng tai họa.

    Tuy vậy, vẫn có nhiều quan điểm tiến bộ, nhấn mạnh nỗ lực và sự hoạt động tích cực của con người. Các nhà Nho quan niệm con người do trời sinh ra nhưng con người không thụ động ngồi xem tạo hóa xoay vần mà bằng nỗ lực của mình, con người có thể cải thiện được tình hình. Chính vì vậy, thời Trần, Đào Sư Tích đã khẳng định: “Trời người một lẽ, cảm thông rất mực, ứng nghiệm không ở trời mà ở người, tốt lành không tại điềm mà tại đức. Cho nên, trời giúp vua Thuấn không tại sách thấy thất chính mà tại thiên thời vâng kính. Trời ban cho vua Vũ, không tại trình bày Lạc Thư, mà tại sửa sang sáu phủ”(16). Thừa nhận mệnh trời, tin vào mệnh trời nhưng Nguyễn Trãi cũng cho rằng, “thời có thịnh suy, quan hệ ở vận trời; việc có thành bại thực ở tại người làm”(17). Có thể thấy, trong tư tưởng của Nguyễn Trãi, bất cứ sự việc xảy ra như thế nào đều do ý trời quyết định, nhưng trời ở đây không phải là một lực lượng siêu nhiên thần bí nào đó mà cũng tương tự như lẽ phải, đạo lý tất phải làm thế, như quy luật khách quan, không khác được và con người nếu biết tuân theo quy luật đó có thể thay đổi được mọi việc. Lê Quý Đôn cũng tin rằng nếu những việc làm “hợp với lẽ trời, với lòng người” (Quần thư khảo biện) thì chắc chắn sẽ thành công. Như vậy, con người không hoàn toàn bị trời chi phối, bị mệnh khuất phục mà con người vẫn có thể cải biến mệnh dựa vào nỗ lực của mình. Đây cũng là nhận thức chung của nhiều nhà Nho trong xã hội phong kiến Việt Nam. Nguyễn Du, một người hết sức tin trời, tư tưởng về mệnh trời có ở hầu khắp Truyện Kiều nhưng bản thân ông lại luôn đứng về phía những con người đau khổ mà tố cáo trời xanh, con tạo. Nguyễn Đức Đạt cũng thể hiện tư tưởng tiến bộ khi cho rằng, số mệnh không phải là cái định sẵn mà là cái có sau, họa phúc không hẳn do trời mà chủ yếu do con người tự tạo ra.

    Với nhiều nhà Nho Việt Nam, tư tưởng “mệnh trời” còn được sử dụng như là cơ sở quan trọng để khẳng định nền độc lập chủ quyền của đất nước. Đối với họ, cuộc chiến tranh chính nghĩa nhằm chống kẻ thù xâm lăng của nhân dân ta là hợp với lẽ trời, thuận lòng người nên được trời giúp đỡ, còn kẻ thù hung bạo tất yếu sẽ bị thất bại, bị tiêu diệt. Chính những tư tưởng đó đã góp phần củng cố lòng tin của nhân dân vào cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc.

    --------------

    (1) Viện Văn học. Thơ văn Lý - Trần, t.3. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, tr.496-497.

    (2) Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Nguyễn Trãi toàn tập. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr.122.

    (3) Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Đại Việt sử ký toàn thư, t.1. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr.132.

    (4) ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Nguyễn Trãi toàn tập. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr.511.

    (5) Viện Văn học, Thơ văn Lý - Trần, t.3. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, tr.60.

    (6) ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Nguyễn Trãi toàn tập. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr.275, 424, 389, 454.

    (7) Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Đại Việt sử ký toàn thư, t.2. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr.288.

    (8) Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Sđd., tr.221.

    (9) Dẫn theo Trần Văn Giàu. Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, t.1. Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1993, tr.126.

    (10) Nguyễn Bá Tĩnh. Tuệ Tĩnh toàn tập, Hội y học cổ truyền, Tp. Hồ Chí Minh, 1994, tr.498.

    (11) Cao Xuân Huy - Thạch Can (chủ biên). Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, t.2. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, tr.76.

    (12) Viện Văn học. Thơ văn Lý - Trần, t.3. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, tr.392.

    (13) Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Đại Việt sử ký toàn thư, t.2. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tr.45.

    (14) Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Sđd., t.1, tr.215.

    (15) Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Sđd., t.1, tr.200.

    (16) Viện Văn học. Thơ văn Lý - Trần, t.3. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, tr.229-230.

    (17) ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam. Nguyễn Trãi toàn tập. Sđd., tr.173

    Từ «Sự Ðụng Ðộ Giữa Các Nền Văn Minh» và Nhân Chủng Học nhìn lại Chủ Nghĩa Tương Ðối Văn Hoá

    Views:
     Phạm Trọng Luật   

              Chiến tranh bắt nguồn từ tâm trí con người, chính ngay trong tâm trí con người mà các thành lũy chống chiến tranh cần được xây dựng.
                                                                                            UNESCO
    Nhân loại đang sống dưới sự đe doạ của một cuộc thánh chiến giữa các nền văn minh dựa trên tôn giáo - có thể không còn là trong tương lai xa hay gần nữa mà đã bắt đầu. Nếu phải xây dựng những thành lũy chống chiến tranh ngay từ bây giờ trong tâm trí con người, thì tình thế đã rất khẩn trương, dù chưa đến nỗi tuyệt vọng. Trên vấn đề văn hoá, chúng ta đã đi từ thái cực này sang thái cực khác, từ tật miệt thị đến bệnh sùng bái những khác biệt. Tất cả đã được phản ánh khá rõ nét qua suốt 200 năm lập thuyết của nhân chủng học. Bộ môn này đã thất bại trong nhiệm vụ tìm lại sự đơn nhất của nhân loại thông qua những biểu hiện đa tạp của chủng tộc chăng? Dù sao, chính nhờ một số trực giác còn lại trong những kết quả của môn học trên mà chúng ta có thể tìm thấy loại luận cứ cần thiết nhằm phê phán «chủ nghĩa tương đối văn hoá hậu hiện đại»: hiểu một cách cực đoan, chủ nghĩa này bao hàm ý tưởng «vô thông ước» (incommensurability) giữa các đơn vị văn hoá, cơ sở lý thuyết, nghịch lý thay, không phải của sự bao dung mà của sự bất dung văn hoá, đồng minh vô tình của chiến tranh. Phê phán phần nào thôi, bởi vì một sự phê phán trọn vẹn chủ nghĩa tương đối văn hoá đòi hỏi chúng ta phải cùng phiêu lưu vào lãnh địa của triết lý khoa học, và phần bổ túc này chỉ có thể là đối tượng của một bài luận khác. Tất cả giới hạn trong khả năng hiểu biết khiêm tốn của người viết, tất nhiên.

    K.JASPERS - NHÀ TRIẾT HỌC HIỆN SINH TÔN GIÁO

    Views:

    NGUYỄN LÊ THẠCH (*)
    NGUYỄN NGỌC QUỲNH (**)


    Karl Theodor Jaspers (23/2/1883 – 26/2/1969) là nhà triết học, nhà phân tâm học, thầy thuốc chữa bệnh tâm thần người Đức, người có ảnh hưởng lớn tới thần học, phân tâm học và triết học hiện đại. Cùng với Heidegger, Jaspers đã sáng lập chủ nghĩa hiện sinh Đức nổi tiếng trong thế kỷ XX. Vốn là con một giám đốc ngân hàng, sinh ra tại Oldenburg và sớm quan tâm đến triết học, nhưng Jaspers lại chọn ngành luật và đã học ba học kỳ tại các trường đại học ở Heidelberg, Muenchen, do chịu ảnh hưởng bởi cha ông. Từ năm 1902 – 1903, ông chuyển qua học y tại Berlin và Goettingen.
    Karl Theodor Jaspers



    Jaspers tốt nghiệm trường y năm 1909 và bắt đầu làm việc tại một bệnh viện tâm thần ở Heidelberg. Khi làm việc ở đây, ông thực sự thất vọng với phương pháp mà giới y học lúc bấy giờ nghiên cứu, tiếp cận bệnh tâm thần và ông tự đặt cho mình nhiệm vụ nâng cao phương pháp phân tâm học. Năm 1913, ông giành được một vị trí tạm thời tại Đại học Heidelberg với tư cách giảng viên tâm lý học. Về sau, ông trở thành giảng viên chính thức và không bao giờ quay lại với công việc điều trị lâm sàng nữa. Năm 1923, ông cho xuất bản cuốn Triết học - tác phẩm được các nhà nghiên cứu đánh giá là quan trọng bậc nhất của ông và là nòng cốt cho triết học hiện sinh.

    20 bức hình này sẽ khiến bạn giật mình về triết lý sâu xa của cuộc đời

    Views:
    Dưới đây là 20 bức hình khá độc đáo nói lên những khía cạnh của cuộc sống mà chúng ta đang tồn tại, cùng với một tâm trí sáng suốt và một sự thấu hiểu, giúp ta tránh sa vào những sai lầm trong vòng xoáy của cuộc đời, không phải chịu báo ứng, tránh khỏi việc không cẩn thận mà phải đóng vai những nhân vật trong bức họa..


    1. Theo chỉ dẫn của người khác, mù quáng mà bước về phía trước, có thể bước tiếp theo bạn sẽ ngã xuống, cú ngã này sẽ rất đau đớn đó.

    Vậy bạn nên: Trở thành người chỉ dẫn, bạn phải là người khổng lồ để ra lệnh, kẻ khác phải bước tới dù trước mặt hiểm nguy.

    Quan niệm của Nho giáo về Đạo làm Người

    Views:

    Nguồn Khoa Triết học - Đại học sư phạm Hà Nội


     NGUYỄN THỊ THỌ(*)
    Để làm rõ quan niệm của Nho giáo về đạo làm người, trong bài viết này tác giả đã đưa ra và luận giải khái niệm “Đạo làm người”, đạo làm người qua các mối quan hệ (quan hệ của con người với bản thân; quan hệ của con người với người khác – với xã hội). Theo tác giả, với Nho giáo, nhân, nghĩa, lễ, trí và tín được đặt trong quan hệ của con người với chính bản thân mình để tu thân, để trở thành người quân tử; còn chính danh là yêu cầu đạo đức được đặt trong quan hệ với người khác (với xã hội) để mỗi người đều thực hiện đúng phận sự của mình, làm cho xã hội ổn định, phát triển.

    Nho giáo - một học thuyết chính trị, đạo đức ra đời từ Trung Quốc, trải qua hơn 25 thế kỷ tồn tại và phát triển nhưng vẫn còn đó như sự thách thức với thời gian. Nho giáo về sau đã khác nhiều so với lúc mới xuất hiện, nhưng nó vẫn có điểm chung - đó là một học thuyết chính trị, đạo đức của giai cấp phong kiến Trung Quốc, chủ trương dùng "lễ trị", "đức trị" để quản lý xã hội. Khổng Tử nói: "Dùng đạo đức làm đường lối chính trị thì như sao Bắc Đẩu ở một chỗ nhất định mà caác sao khác đều vây quanh"(Luận ngữ vi chính, 1)(1). Những nguyên tắc đạo đức của Nho giáo như nhân, lễ, nghĩa, trí, tín vừa là chuẩn mực để điều chỉnh hành vi của con người, vừa là những biện pháp để bảo đảm cho chính trị, nhân nghĩa được thực hiện. Bởi vậy, Nho giáo không đưa ra định nghĩa nào về khái niệm "Đạo làm người", nhưng qua các tác phẩm kinh điển, qua tư tưởng của các đại biểu Nho giáo có thể thấy, khái niệm "Đạo làm người" đã được Nho giáo đi sâu khai thác. ([1])

    1. Đạo làm người
    "Đạo làm người" là khái niệm được hình thành từ rất lâu, nhưng ngày nay, luận bàn về nó không phải là một điều đã cũ, cổ hủ. Bởi lẽ, từ khi có con người và xã hội loài người thì những mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên, con người với chính bản thân mình luôn nảy sinh và do vậy, "Đạo làm người" luôn vận hành. Ngày nay, khi xã hội càng phát triển, trình độ nhận thức của con người không ngừng được nâng cao, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp thì "Đạo làm người" lại càng được chú ý hơn bao giờ hết.

    Khi bàn đến "Đạo làm người", Nho giáo nhấn mạnh đến “Đạo nhân”, "Đạo làm người". Theo nghĩa đó, “Đạo làm người” được hiểu là nguyên tắc chính trị, là quy phạm đạo đức và luân lý, là đạo lý trị quốc và xử thế của con người. Nói cách khác, đạo làm người được hiểu là đường lối, nguyên tắc đạo đức mà con người có bổn phận gìn giữ và tuân theo trong đời sống. Đó là nhân sinh quan, là quan niệm sống trong sạch, thuận theo lẽ phải.
    Nguyên tắc chính trị là tư tưởng chỉ đạo việc trị quốc, bình thiên hạ, phản ánh hệ tư tưởng của giai cấp cầm quyền. Quy phạm đạo đức, luân lý theo quan niệm của Nho giáo chính là tam cương, ngũ thường, trung hiếu, tam tòng, tứ đức,… Đạo làm người của Nho giáo bao quát các mối quan hệ trong xã hội ở một phạm vi rất rộng. Một người có đạo đức, có “đạo làm người” là cơ sở để người đó thực hiện tốt mối quan hệ trong quan hệ với tự nhiên, trong ứng xử xã hội, ứng xử với chính bản thân mình theo danh phận
    Nho giáo gọi con người đạt được các chuẩn mực đó là “người quân tử”, “đấng trượng phu”. Với Khổng tử, người quân tử không thuần túy chỉ địa vị xã hội của người đó, mà chủ yếu chỉ phẩm chất đạo đức mà người đó đạt được. Ông cho rằng, “Tề Cảnh Công có một ngàn cỗ xe bốn chỗ nhưng sau khi chết, dân không thấy có công đức gì mà khen. Bá Di và Thúc Tề chết đói ở chân núi Thú Dương, nhưng đến nay dân hãy còn ca ngợi. “Thành bất dĩ phú, diệc chi dĩ dị” (thật chẳng vì giàu, chỉ vì đức lạ). Có lẽ là nói về điều này chăng” (Luận ngữ, Quý thị, 12)(2).
    2. Đạo làm người qua các mối quan hệ
    2.1. Quan hệ của con người với bản thân
    Nho giáo là học thuyết rất chú trọng đến đạo đức con người, trong đó có đạo đức trong ứng xử với chính bản thân mình. Với nguyên tắc đạo đức này, Nho giáo coi trọng sự nghiêm khắc trong việc tu thân, tích đức.
    Theo Nho giáo, người quân tử đối với mình trước hết phải làm những việc khó, sau mới được hưởng thành quả (Nhân giả tiên nan; nhi hậu hoạch; khả vị nhân hỹ) (Luận ngữ, Ung giã, 20)(3). Đến đời Tống, Phạm Trọng Yêm cho rằng, người khổ trước thiên hạ, vui sau thiên hạ là người có nhân. Khác với những người bất nhân, người quân tử, nhân đức là người luôn vui vẻ sống trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù đó là vinh hoa hay đói nghèo, túng thiếu. Họ không bị phú quý, danh lợi, giàu sang làm lung lạc.
    Khi đề cập đến mẫu người quân tử, Khổng Tử thường đưa ra những tiêu chuẩn khác nhau, song chung quy lại, người quân tử phải đạt được chín điều sau: (1) Nhìn thì phải để ý nhìn sao cho sáng; (2) Nghe thì phải lắng tai nghe cho rõ ràng; (3) Sắc mặt phải giữ cho ôn hòa; (4) Tướng mạo thì phải giữ cho khiêm cung; (5) Nói năng phải giữ bề trung thực; (6) Làm việc phải trọng sự kính cẩn; (7) Có điều nghi hoặc thì phải hỏi han; (8) Khi giận thì nghĩ đến sự hoạn nạn có thể xảy ra; (9) Thấy lợi thì phải nghĩ tới điều nghĩa” (Luận ngữ, Quý thị, 10)(4). Theo Khổng Tử, chín điều này phải có sự hài hòa với nhau mà ông gọi là “trung dung”. Để đạt được những điều này, trước hết người quân tử phải rèn luyện được 5 đức cơ bản: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Đây cũng là tư tưởng xuyên suốt đạo làm người của Nho giáo nói riêng, hệ thống tư tưởng Nho giáo nói chung. Người quân tử, theo Nho giáo, phải biết giữ đức nhân của mình, có thể vì nhân mà sát thân chứ không thể vì thân mà hại nhân. Để gìn giữ đức nhân, người quân tử phải tự kiềm chế mình để tuân theo lễ tiết của xã hội (Luận ngữ, Nhan Uyên, 1), để vững vàng, trầm tư như núi trước mọi thử thách của cuộc đời (Luận ngữ, Ung giã, 21). “Khắc kỷ phục lễ vi nhân”, tức là điều gì không hợp với lễ thì đừng nhìn, đừng nghe, đừng nói, đừng làm. Theo Khổng Tử, là người ai cũng có nỗi sợ hãi của mình, bản thân ông cũng nói nhiều đến chữ “sợ” (úy); nhưng không có chỗ nào, ông khuyên người ta tham sống sợ chết cả. Ngược lại, ông còn khuyên người có nhân và chí khí thì phải biết chọn cái chết một cách xứng đáng: “Người có chí khí và người có đức nhân không tham sống mà hại người. Họ phải xả thân để thành nhân”. Để đạt được tất cả những phẩm chất đạo đức đó, để hành động như một người quân tử giúp đời, Khổng Tử cho rằng, người quân tử phải luôn lấy “tu thân” làm đầu. Tu thân là cơ sở để xây dựng nhân cách cho mình, để hành đạo giúp đời (tề gia, trị quốc, bình thiên hạ).
    Nhân là đạo đức căn bản nhất của con người; nó bao hàm trong mình mọi đức tính. Do vậy, người có nhân đồng nhất với người hoàn thiện nhất, người quân tử. “Người có đức nhân là người phải nghiêm trang, tề chỉnh, rộng lượng, khoan dung, đức tín, lòng thành, siêng năng, cần mẫn và biết thi ân với năm đức (cung, khoan, tín, mẫn, huệ) (Luận ngữ, Dương hóa, 6)(5). Đó cũng là người biết yêu người đáng yêu, biết ghét người đáng ghét. Người có đức nhân cũng là người có đức lễ, vì biểu hiện ra bên ngoài của nhân là lễ (khắc kỷ phục lễ vi nhân). ở phạm vi quốc gia, lễ được hiểu là việc tuân theo kỷ cương phép nước và các chuẩn mực đạo đức xã hội. Nghĩa được các nhà Nho đặt trong mối quan hệ với lợi. Họ có xu hướng coi nhẹ lợi mà chỉ chú trọng nghĩa. Khổng Tử cho rằng, “quân tử hiểu rõ về nghĩa, tiểu nhân hiểu rõ về lợi”(6). Do vậy, Khổng Tử hay khuyên điều nghĩa, cho nghĩa là một điều căn bản để lập thân, việc gì hợp với nghĩa thì làm, không hợp thì bỏ. Lễ, Tín và Nghĩa gắn bó chặt chẽ với nhau: “Người quân tử lấy nghĩa làm gốc, theo lễ mà thực hiện, nói ra bằng lời khiêm tốn và hoàn thành bằng thái độ thành thực. Như vậy thật là quân tử (Luận ngữ, Vệ Linh Công, 17)(7). Mạnh Tử còn bài xích lợi hơn, ông chỉ thấy có nghĩa mà không có lợi. Nhà vua chỉ nói điều nhân nghĩa, hà tất phải nói tới lợi. Trí là trí tuệ, là tri thức, hiểu biết của người quân tử, là cơ sở để hành sự. Người hoàn thành, đạt được việc tu thân là người làm tròn, làm đúng phận sự của mình (chính danh). Trên cơ sở làm tròn phận sự của mình mà mở rộng ra việc làm tròn phận sự, nhiệm vụ của mình đối với người khác trong mọi mối quan hệ.
    Yêu cầu của Nho giáo về tiêu chuẩn đạo đức để con người tu thân là rất toàn diện. Không những đề cao tinh thần tu thân, bản thân Khổng Tử còn là một tấm gương về tu thân. Ông muốn cả xã hội tu thân để tạo thành một “vương quốc của người quân tử”. Quan niệm của Nho giáo về đạo làm người trong quan hệ đối với bản thân cho đến nay vẫn còn những giá trị nhất định, giúp chúng ta rèn dũa bản thân, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, sống đúng danh phận của mình.
    2.2. Quan hệ của con người với người khác (với xã hội)
    Trong xã hội, con người phải duy trì đồng thời nhiều mối quan hệ khác nhau, như quan hệ kinh tế, quan hệ chính trị, quan hệ luân lý đạo đức, quan hệ tôn giáo, quan hệ gia đình..., trong đó quan hệ kinh tế là cái đóng vai trò cơ bản. Nhưng ngay từ sơ kỳ, các nhà Nho đã không quan tâm đến quan hệ kinh tế, cũng không quan tâm đến các quan hệ pháp luật, tôn giáo. Họ tuyên bố: “Trong xã hội, mọi nghề nghiệp đều là thấp kém, duy chỉ có nghề đọc sách là cao quý” (Vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao). Vì vậy, sự tập trung của các Nho gia chủ yếu vào lĩnh vực chính trị, đạo đức, điều này phù hợp với đường lối đức trị, với quan niệm cho rằng chính trị, đạo đức quyết định sự an nguy của triều đình, sự ổn định của xã hội.
    Khổng Tử là người đầu tiên nêu lên mối quan hệ giữa con người với con người, giữa “kỷ” (mình) và “nhân” (người). Với ông, nguyên tắc đối xử giữa người với người là xem người cũng như mình, cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người (thi chư kỷ nhi bất nguyên, diệc vật thì ư nhân), mình muốn làm nên thì giúp người làm nên, mình muốn thành đạt thì giúp người thành đạt (kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân). Với quan niệm về “kỷ” và “nhân” này, Khổng Tử đã khẳng định tư tưởng đạo đức coi trọng con người của Nho giáo. Nguyên tắc thứ hai mà Khổng Tử đề cao là “Trung dung”, “Trung hòa”. “Trung hòa là cái tính tự nhiên của trời đất, trung dung là cái đức hạnh của người ta. Trung là giữa, là không thiên lệch về bên nào. Dung là thường. Trung dung nghĩa là dùng đạo Trung làm lẽ sống thường ngày vậy”(8). Nghĩa là đạo Trung dung đòi hỏi con người đừng thái quá về mình, cũng đừng thái quá về người. Nó giống như mối tương quan giữa “văn” và “chất”: “Chất mà trội hơn văn thì thô kệch, văn mà trội hơn chất thì phù phiếm, văn và chất đều hài hòa thì mới là quân tử (Luận ngữ, Ung giã, 16)(9).
    Mạnh Tử đã khái quát mối quan hệ của con người trong xã hội thành 5 mối quan hệ cơ bản, đó là: quân - thần (vua - tôi), phụ - tử (cha - con), phu - phụ (chồng - vợ), trưởng - ấu (người lớn tuổi - người nhỏ tuổi, anh - em), bằng  hữu (bạn bè). Cơ sở của mỗi mối quan hệ đã được Mạnh Tử thuyết minh rõ ràng: “Cha con thì có tình thân ruột thịt, vua tôi thì có nghĩa, chồng vợ thì có khách biệt, lớn tuổi và ít tuổi thì có thứ tự, bạn bè thì có điều tín” (phụ tử hữu thân, quân thần hữu nghĩa, phu phụ hữu biệt, trưởng ấu hữu tự, bằng hữu hữu tín)(10). Mạnh Tử gọi năm mối quan hệ đó là “nhân luân”, có nhà Nho gọi đó là “ngũ luân”. Đó là năm mối quan hệ được coi là tiêu biểu cho các mối quan hệ xã hội lúc bấy giờ. Các mối quan hệ này dần dần quy về 3 mối quan hệ. Đó là quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, còn gọi là “Tam cương”. Đây được coi là những mối quan hệ giường mối, làm trụ cột của xã hội phong kiến Trung Quốc từ thời Hán trở đi.
     ở giai đoạn đầu, các nguyên tắc đối xử của nhà Nho còn mang tính hai chiều, yêu cầu người dưới có nghĩa vụ đối với người trên và người trên cũng phải có nghĩa vụ với người dưới. Nhưng về sau, khi chế độ phong kiến tập quyền được xác lập, tính đẳng cấp được đề cao, nguyên tắc ứng xử dần chuyển sang yêu cầu khắt khe với người dưới, đòi hỏi người dưới phải phục tùng vô điều kiện đối với người trên. Trong mối quan hệ giữa vua và bề tôi, nguyên tắc đạo đức của Nho giáo, về cơ bản, là quân nhân thần trung. Cả quân và thần đều phải đáp ứng những yêu cầu sau:
    Thứ nhất, phải chính danh. Đứng trước thực trạng xã hội rối ren, Khổng Tử cho rằng, đó không phải là nguyên nhân một sớm một chiều, mà là một quá trình bắt nguồn từ sự sa đọa của các thế lực cầm quyền, làm cho “danh” không được “chính”, tức là “danh” không phù hợp với “thực”. Vì vậy, ông yêu cầu vua trước hết phải “chính danh”. Chính danh là “vua cho ra vua”, nếu danh bất chính thì lời nói không đúng đắn, dẫn đến việc làm sai, khi đó người với người trong xã hội không kính trọng nhau, không còn hòa khí, luật pháp lỏng lẻo và người dân sẽ mất nơi tin cậy, nhờ vả (Luận ngữ, Tử Lộ, 3). Khi dân không còn trông cậy, nhờ vả, thì dân sẽ không còn tin ở bậc cầm quyền, lúc đó dù muốn hay không thì xã tắc cũng khó tránh bề suy sụp.
    Thứ hai, phải có sự tôn trọng của cả hai phía với nhau. Khổng Tử yêu cầu: “Nhà vua sai khiến bề tôi thì dựa vào điều lễ, bề tôi phụng sự nhà vua thì dựa vào điều trung” (Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung) (Luận ngữ, Bát dật, 19)(11).
    Kế thừa quan điểm này của Khổng Tử, Mạnh Tử còn mạnh mẽ hơn, khi ông khuyên Tề Tuyên Vương rằng: “Nếu nhà vua xem bề tôi như tay chân thì bề tôi xem nhà vua như lòng dạ của mình; nếu nhà vua xem bề tôi như chó ngựa thì bề tôi xem nhà vua như người dưng trong nước; nếu nhà vua xem bề tôi như cỏ đất thì bề tôi xem nhà vua như kẻ thù” (quân chi thị thần như thủ túc, tắc thần thị quân như phúc tâm; quân chi thị thần như khuyển mã, tắc thần thị quân như quốc nhân; quân chi thị thần như thủ giới, tắc thần thị quân như khấu thù) (Mạnh Tử, Ly Lâu hạ) (12).
    Thứ ba, cả vua và bề tôi đều được Khổng Tử coi là người cầm quyền; họ phải đạt được cả nhân đạo và thiên đạo. Bởi lẽ, một ông vua đồng thời cũng phải là người thầy của dân, phải là người nhân đức nhất trong những người nhân đức. Người làm chính trị mà có đức nhân thì như đứng vào vị trí của sao Bắc đẩu, vị trí mà tất cả các ngôi sao khác đều phải hướng đến (Luận ngữ, Vi chính, 1). Vua phải đảm bảo cho dân được no ấm, phải xây dựng được lực lượng quân sự hùng hậu và đặc biệt, phải có được lòng tin của dân. Không những thế, vua phải làm cho dân giàu và biết giáo hóa dân(13). Vua sáng còn là người biết trọng dụng người đức độ, tài năng, phải biết rộng lượng đối với bề tôi của mình. Vua phải là người hết lòng vì dân chúng. Mạnh tử đã khuyên các bậc vua chúa: “Ngài vui cái vui của dân thì dân cũng vui cái vui của mình, ngài lo cái lo của dân thì dân cũng lo cái lo của mình. Vì thiên hạ mà vui, vì thiên hạ mà lo, thế mà không làm vương thì chưa có vậy” (Mạnh Tử, Lương Huệ Vương). Ngoài ra, vua còn phải thực hiện chính sách điền địa công bằng, phân minh, giảm tô thuế cho dân, cải thiện đời sống nhân dân. Đó cũng là nhiệm vụ trọng yếu của người cai trị đất nước. Nho giáo khuyên vua không nên lạm dụng hình phạt để ép dân đi vào tôn ti trật tự, mà nên bằng đức hạnh, lễ nghĩa, vì đức hạnh có sức mạnh cảm hóa con người và làm cho con người biết hổ thẹn khi làm sai: “Dắt dẫn (dân) bằng chính pháp, sửa trị dân bằng hình phạt, thì dân chỉ tạm tránh khỏi được tội lỗi, chứ không có lòng hổ thẹn. Nếu dắt dẫn bằng đạo đức, sửa trị bằng lễ giáo, thì dân không những có lòng hổ thẹn mà còn cảm hóa quy phục”(14). Đức hạnh và lễ tiết ở đây chính là những tiêu chuẩn về đức tính, là những quy định về giao tiếp, lễ nghi mà con người phải có, phải tuân theo.
    Trong đạo làm tôi, Khổng Tử đề cao chữ “Trung”, nhấn mạnh lòng biết ơn, sự phục tùng, tinh thần phục vụ hết lòng hết sức của bề tôi đối với vua, với quốc gia. Theo ông, người làm tôi, làm quan trước hết phải là người có đức trong mọi hành động, có thái độ đúng ở mọi nơi, mọi lúc, chứ không phải khi nhận chức tước mới là làm quan. Khi chứng kiến cảnh xã hội có chiến tranh, huynh đệ tương tàn, Mạnh Tử đã phê phán những kẻ làm quan mà không đúng danh phận của mình, chỉ biết hùa theo điều ác của vua, phò vua chỉ biết sửa soạn binh đao đi đánh chiếm nước khác, gây chiến tranh. Ông kết tội: “Hùa theo điều ác của vua mà không can ngăn là tội nhỏ, xúi giục điều ác của vua là tội lớn. Những quan đại phu thời nay đều xúi giục điều ác của vua, cho nên bảo rằng quan đại phu thời nay là người có tội lớn”(15). Với lời kết tội này, ông đã nêu lên tư tưởng về “Đạo làm quan”: “Khi thiên hạ có đạo thì đem đạo theo thân mà ra làm quan. Khi thiên hạ không có đạo thì đem thân theo đạo mà lui về ở ẩn” (Mạnh Tử, Tân tâm hạ). Ông cũng thẳng thắn nói: “Thà ở bậc dưới là dân, không chịu đem mình là người hiền mà thờ ông vua vô đạo” (Mạnh Tử, Cáo Tử hạ). Từ đó, ông đã nêu ra ba trường hợp nên ra làm quan và ba trường hợp nên từ quan (Sở tựu tam, sở khứ tam). Thứ nhất, làm quan khi thấy có thể hành đạo được. Thứ hai, làm quan vì giao tế có lễ. Thứ ba, làm quan khi vua biết trọng dụng, nuôi dưỡng. Khi ra làm quan rồi, thì phải trung với vua, hết lòng hết sức thờ vua, nhưng cũng không vì vậy mà biến mình thành kẻ “ngu trung”. Người làm tôi trung còn là người biết can gián vua, khi vua làm điều trái đạo; không những thế, còn có thể phế truất ngôi vua, khi thấy vua là kẻ vô đạo.
    Bên cạnh quan hệ vua tôi, trong gia đình cũng có nhiều mối quan hệ, nhưng mối quan hệ mà Nho giáo quan tâm nhất, coi là cơ bản nhất, làm rường cột cho các mối quan hệ khác là mối quan hệ giữa cha và con, giữa thế hệ trước và thế hệ sau. Tiêu chuẩn trong mối quan hệ này, theo Khổng Tử, là “Phụ từ tử hiếu”. Nho giáo giai đoạn sau đã đẩy mối quan hệ này lên mức tuyệt đối là “Phụ sử tử sự” (Cha quyết, con phục tùng). Để ổn định gia đình, vai trò của người cha “từ” cũng rất quan trọng, nhưng quan trọng hơn là sự phục tùng của người con. Do vậy, Nho giáo đặc biệt đề cao Hiếu, khi coi Hiếu là nguồn gốc của mọi đức hạnh. Nếu Khổng Tử coi đạo Hiếu là một loại ý thức luân lý của con cái đối với cha mẹ, thì đến Tông thánh Tăng Tử (ông Thánh của đạo Hiếu) đã phát triển đạo Hiếu lên thành một khái niệm trừu tượng, phổ biến, một nguyên tắc của mọi đức khác, là phẩm chất vĩnh hằng của con người, là cơ sở của mọi đường lối chính trị tốt đẹp. Phạm trù trung tâm trong học thuyết Nho giáo là Nhân, thì Hiếu được coi là gốc rễ  của Nhân.
    Hiếu cũng có quan hệ chặt chẽ với Trung. Theo Nho giáo, xã hội là sự mở rộng mối quan hệ cha con ra cả nước, cả thiên hạ là quan hệ vua – tôi và mở rộng đạo làm con, đạo Hiếu ra phạm vi ấy là đạo làm tôi, đạo Trung. Đạo Hiếu trong quan niệm của Nho giáo có nhiều nội dung sâu sắc và mang đậm tính nhân văn.
    Ngoài ra, Nho giáo còn đề cập đến đạo đức trong mối quan hệ chồng – vợ, huynh – đệ, bạn bè,... với những yêu cầu đạo đức rất cụ thể.
    Với Nho giáo, nhân, lễ, nghĩa, trí, tín được đặt ra trong quan hệ của con người với chính bản thân mình để tu thân, để trở thành người quân tử, còn chính danh là yêu cầu đạo đức được đặt ra trong quan hệ với người khác (với xã hội) để mỗi người thực hiện đúng việc, đúng phận sự của mình làm cho xã hội ổn định, phát triển. Những quan niệm này của Nho giáo cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị và có ý nghĩa thời sự của nó. Trong điều kiện hiện nay, khi mối quan hệ của con người với con người càng được mở rộng, khi xã hội đang có những biểu hiện xuống cấp về mặt đạo đức, tệ quan liêu, tham ô, tham nhũng đang diễn biến phức tạp, thì tư tưởng về đạo làm người trong mối quan hệ với xã hội của Nho giáo lại càng có ý nghĩa, góp phần điều chỉnh hành vi của mỗi người để xây dựng xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.
     
    *************
    (*) Tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
    (1) Ngữ văn Hán Nôm, t.1: Tứ thư. Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004, tr.227.
    (2) Ngữ văn Hán Nôm. Sđd., tr.513.
    (3) Ngữ văn Hán Nôm. Sđd., tr.312.
    (4) Ngữ văn Hán Nôm. Sđd., tr.512. 
    (5) Ngữ văn Hán Nôm. Sđd., tr.516.
    (6) Giản Chi và Nguyễn Hiền Lê. Đại cương Triết học Trung Quốc, t.2. Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2005, tr.452.
    (7) Ngữ văn Hán Nôm. Sđd., tr.485.
    (8) Doãn Chính. Đại cương lịch sử triết học phương Đông cổ đại. Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2003, tr.189-190.
    (9) Ngữ văn Hán Nôm. Sđd., tr.326. 
    (10) Ngữ văn Hán Nôm. Sđd., tr.698. 
    (11) Ngữ văn Hán Nôm. Sđd., tr.253. 
    (12) Nguyễn Hữu Vui (Chủ biên). Lịch sử triết học. Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội, 2004, tr.35.
    (13)  Ngữ văn Hán Nôm. Sđd., tr.429.
    (14) Ngữ văn Hán Nôm. Sđd., tr.244-245. 
    (15) Doãn Chính. Đại cương lịch sử triết học phương Đông cổ đại. Sđd., tr.253.

    Thử nghiệm tâm lý cho thấy "Lòng tin ở con người vẫn hiện hữu"

    Views:

    Cập nhật lúc 10h24' ngày 05/09/2014 - Nguồn Khoahoc.com.vn
    Nhiều người tin rằng, thế giới chúng ta đang sống ẩn chứa nhiều xung đột và hiểu lầm, vì vậy con người dễ mất lòng tin. Cùng với đó, khoa học công nghệ phát triển cũng chỉ ra nhiều mặt trái của loài người, khiến mỗi người ngày một xa rời nhau.
    Tuy nhiên, các nghiên cứu tâm lý dưới đây sẽ chỉ ra "lòng tin luôn hiện hữu trong mỗi người".

    1. Thảm họa sinh ra lòng vị tha

    Chúng ta thường nghĩ rằng, trong các cuộc thảm họa quy mô lớn như khủng bố tấn công hay động đất, con người rất dễ hoảng loạn, sợ hãi và cố gắng bảo toàn tính mạng của chính bản thân họ.
    Tuy nhiên, nghiên cứu đã chỉ ra điều ngược lại. Con người không chỉ giữ được bình tĩnh trong những tình huống khẩn cấp mà còn có khả năng giúp đỡ những người khác.


    Tai họa ngày càng nhiều thì con người càng sống vị tha hơn, tạo nên sự đoàn kết tương trợ lẫn nhau giúp chúng ta vượt qua mọi thử thách. Điều này được thể hiện rõ trong thực tế, khi người dân các nước cùng chung tay để giúp đỡ Nhật Bản sau khi trải qua thảm họa động đất, sóng thần vào năm 2011.
    Không chỉ vậy, các nhà nghiên cứu thuộc Viện Nhân chủng tiến hóa Max Planck ở Đức phát hiện rằng, ngay cả những đứa bé 18 tháng tuổi đã có những dấu hiệu của lòng vị tha cho dù chưa được dạy các kĩ năng xã hội trước đó.



    Để đưa ra kết luận này, các chuyên gia đã tiến hành quan sát 24 đứa bé 18 tháng tuổi khi nhờ chúng giúp đỡ treo quần áo lên móc và xếp lại chồng sách. Chỉ ngay 10 giây của cuộc thử nghiệm, gần như tất cả các bé đều tiến lại gần và giúp đỡ.
    Felix Warneken - tác giả nghiên cứu nói rằng: "Kết quả thật đáng kinh ngạc vì những đứa trẻ này vẫn còn đang mặc tã và hầu như không thể sử dụng ngôn ngữ nhưng các bé vẫn thể hiện hành vi giúp đỡ của mình với người khác".

    2. Một đứa trẻ mới sinh đã có những đạo đức cơ bản

    Bạn có biết rằng, những đứa trẻ vừa mới sinh ra thông minh hơn những gì chúng ta tưởng tượng? Theo các nhà nghiên cứu của ĐH Yale, ngay khi vừa chào đời những đứa trẻ đều đã sở hữu trí thông minh và cả hiểu biết đúng sai cơ bản.



    Để chứng minh điều này, các chuyên gia đã làm một cuộc thử nghiệm khi đưa các bé khoảng 16 tháng tuổi đi xem múa rối. Sau đó, các chuyên gia đưa những con rối cho các bé chọn: bao gồm cả những con rối diễn vai tốt bụng và đóng vai ác.
    Hầu hết các bé (8/10) đều chọn những con rối tốt. Trong một nghiên cứu khác, các chuyên gia đặt thêm những ưu đãi bên cạnh mỗi con rối và vẫn yêu cầu các bé lựa chọn. Kết quả không đổi, hầu hết bé đều bỏ qua những con rối đóng vai ác và chọn cho mình những chú rối gắn liền với vai diễn tốt.

    3. Chúng ta luôn biết quan tâm và đồng cảm

    Bộ não của con người ngay từ đầu đã được lập trình để đồng cảm, sẻ chia với người khác. Chúng ta sẽ phản ứng lại ngay nếu những người thân yêu xung quanh bị tổn thương và hơn thế, ta cũng sẽ có cảm giác như chính bản thân mình bị tổn thương vậy.


    Các nhà nghiên cứu của ĐH Virginia đã làm một thí nghiệm với những tình nguyện viên trẻ, khỏe mạnh. Những người này bị đe dọa buộc phải trải qua những cú sốc điện, các chuyên gia sẽ theo dõi phản ứng của họ qua thiết bị MRI.
    Kết quả là, hoạt động khu vực não bộ của những tình nguyện viên đều tăng cao khi phản ứng với các mối đe dọa. Bên cạnh đó, não bộ cũng hiển thị lượng hoạt động tương đương khi các tình nguyện viên nhìn thấy người bạn của họ bị đe dọa.


    Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn phát hiện ra trong suốt quá trình thí nghiệm, tình nguyện viên nắm tay người bạn của mình sẽ hạn chế được tối đa sự cẳng thẳng và tác động tới từ cú sốc điện.
    Từ những phát hiện trên, các nhà nghiên cứu cho rằng, chính sự tiến hóa đã cho phép não bộ đồng hóa với nhau, nhằm mở rộng kết nối và tăng cơ hội sống sót.

    4. Những việc làm tốt sẽ thúc đẩy nhiều hành động tốt hơn

    Theo giáo sư Adam Grant công tác tại trường kinh doanh Upenn Wharton, lợi ích cá nhân không phải là động lực mạnh nhất khiến con người làm việc. Thay vào đó, chính việc tạo ra những tác động tích cực tới cuộc sống của người xung quanh mới là động lực mạnh mẽ giúp mỗi người cố gắng làm việc, cống hiến.
    Grant đã khẳng định quan điểm này trong một bài nghiên cứu năm 2007, ông giao cho các nhân viên của mình thực hiện nhiệm vụ kêu gọi quyên góp tại trường.



    Sau khi tiếp cận với những sinh viên nhận được học bổng, các nhân viên đã bỏ ra gấp đôi thời gian mọi khi để nói chuyện và kêu gọi ủng hộ từ những sinh viên này. Kết quả là, họ nhận được số tiền quyên góp gấp 3 lần so với bình thường.
    Giáo sư Adam cũng tiến hành một cuộc nghiên cứu khác với các nhân viên cứu hộ để chứng minh quan điểm trên. Các nhân viên kể câu chuyện về đồng nghiệp của mình - những người dành nhiều thời gian để cứu mạng người khác.



    Nhóm thứ 2 được yêu cầu nghe câu chuyện về người đồng nghiệp - cũng làm nhân viên cứu hộ nhưng cố gắng làm việc chỉ để làm giàu. Kết quả là, những nhân viên nghe câu chuyện ở nhóm đầu có hiệu suất công việc tăng hơn 40% so với mức ban đầu.
    Qua nghiên cứu, giáo sư kết luận, ảnh hưởng của những việc làm tốt sẽ thúc đẩy chúng ta làm nhiều việc tốt hơn cùng với đó là tin tưởng nhau nhiều hơn.

    Theo Màn ảnh sân khấu, Listverse, Livescience, Wik

    TÂM LÝ HỌC

    Views:
    TÂM LÝ HỌC - Do LQT Biên Dịch
    8 CÁCH ĐỂ NHỚ MỌI THỨ

    Tôi đã từng nghĩ ra một phép ẩn dụ mà tôi nghĩ là hoàn toàn bắt kịp với một khối lượng lớn kiến thức mà tôi và người bạn cùng lớp đã hy vọng ghi nhớ trong 2 năm đầu tiên tại trường y: giống như được yêu cầu đi vào cửa hàng bách hóa và nhớ tên của từng sản phẩm trong cửa hàng; số thứ tự và vị trí của chúng; và mỗi thành phần trong mỗi sản phẩm, theo thứ tự chúng xuất hiện trên nhãn – sau đó làm điều tương tự ở mỗi cửa hàng bách hóa trong thành phố.


    Bây giờ khi tôi nhìn lại, tôi không thể tưởng tượng được làm thế nào mỗi người trong chúng tôi đã có thể làm được điều đó. Tuy nhiên chúng tôi đã làm được. Khả năng lưu giữ và nhớ lại thông tin của trí óc thực sự kỳ diệu. Và chúng tôi đã được học rất nhiều về cách ghi nhớ cũng như cách học tập từ khi chúng tôi vào học trường y. Mặc dù phần lớn các phương pháp sau đây là những kỹ thuật tôi đã sử dụng để có thể trụ vững trong hai năm đầu tiên ở trường y, nhưng phần lớn ngành khoa học chứng minh các phương pháp này có hiệu quả là còn mới mẻ.
    BACK TO TOP