Cảm nhận tư duy & Tổng hợp kiến thức
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vấn đề tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vấn đề tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2017

Bí mật giờ mới kể của nhà ngoại cảm hàng đầu thế giới

Tờ The Mirror nổi tiếng của Anh mới đây đã đăng tải bài viết về Laura Lynne Jackson, người có thể “nói chuyện” với những đứa trẻ xấu số đã qua đời…

Đối với nhiều người, Laura Lynne Jackson là 1 người vô cùng kỳ lạ, bởi cô thường hay nói chuyện 1 mình. Đôi khi, họ lại tưởng cô bị điên. Nhưng thực tế không phải vậy. Đó là lúc Laura nói chuyện với những đứa trẻ không tồn tại.
Laura Lynne Jackson được cho là một nhà ngoại cảm hàng đầu thế giới.
Laura được biết tới như là 1 nhà ngoại cảm hàng đầu thế giới. Và cô được ví như chiếc cầu nối đặc biệt giúp nhiều bậc phụ huynh liên lạc với những đứa con đã chết của họ.
Laura tin rằng “thế giới bên kia” có tồn tại và đây là nơi sinh sống an toàn của các linh hồn. Tuy nhiên, không phải chỗ nào cô cũng có thể nói chuyện được với các linh hồn, mà chỉ khi ngồi vào ô tô thì khả năng của cô mới có thể phát huy.

Cô chia sẻ, mỗi khi bước vào xe ô tô cô lại có 1 cảm giác vô cùng đặc biệt. Cô nghe thấy những tiếng nói chuyện lạo xạo, những lời mô tả nho nhỏ và hình ảnh mờ mờ ảo ảo của rất nhiều đứa trẻ. Các bé đều muốn gặp cha mẹ của mình và nhờ cô giúp đỡ.
“Các bé như muốn nói rằng: “Tôi ở đây, tôi vẫn tồn tại trong cuộc sống của con người”. Nhiều lúc tôi phải nói với chúng rằng, hãy nói chậm và rõ ràng, vì chúng nói rất nhanh.”
Laura phát hiện ra khả năng đặc biệt này khi 11 tuổi. Đó là lúc mẹ của cô đến nghĩa trang thăm mộ ông cô. Laura đã đi cùng mẹ và đây là lần đầu tiên cô nhìn thấy ông mình hiện ra trước mặt.

Vài năm sau, cô ngủ và nằm mơ đi chơi cùng với 1 nhóm bạn, trong đó có John Moncello. Nhưng trong giấc mơ, cô mơ thấy John bị ngã xuống 1 cái hố và chết. Và sự thật này sau đó đã xảy đến…
Lúc đó, Laura rất lo sợ, cô thực sự cảm thấy sợ khả năng của mình.

Khả năng nói chuyện với người chết từng khiến Laura Lynne Jackson rất lo sợ.
Thời gian trôi qua, cuối cùng, Laura đã trưởng thành và cô lại vui vẻ chấp nhận khả năng của mình. Cô tin rằng đây là một món quà mà chúa trời ban tặng.
Cô đồng ý để các nhà khoa học làm những thí nghiệm trên não mình để phục vụ nghiên cứu cho lĩnh vực tâm linh.

Laura Lynne Jackson giúp các em bé “bên kia thế giới” kết nối được với cha mẹ mình.
Đến nay, cô đã trở thành chiếc cầu nối hữu hiệu để truyền tải những thông điệp mà nhiều đứa trẻ muốn nói với cha mẹ mình. Đôi khi đó chỉ là những lời yêu thương, nhớ nhung mà những đứa trẻ muốn gửi đến cha mẹ chúng.
“Tôi nghĩ rằng tất cả những đứa trẻ mà chúng ta sinh ra đều có sự kết nối với chúng ta. Dù rằng không ít trong số chúng chết vì bệnh tật, tai nạn… hoặc thậm chí bị cha mẹ bỏ ngay khi chưa thành hình thì chúng vẫn dõi theo chúng ta.
Và nếu như thế giới thực của chúng ta không hoàn toàn an toàn cho chúng, thì ở thế giới bên kia chúng lại được an toàn và được chở che.”
Phương Thảo (Theo Mirror)
Share:

Thứ Tư, 29 tháng 3, 2017

Bùa chà kha

Xuất xứ từ Ấn Độ và đã truyền vào Thái Lan nhiều năm rồi, phái này thờ Thần Rắn còn gọi là Naga (cho nên những nét Bùa của Chà Kha uốn lượn như rắn). Căn bản cho người luyện Phép Chà Kha thì phải hội đủ 5 bài Kinh Chú, bao gồm: Kinh Tam Giáo, Thỉnh Tổ, Chú Hội Phép, Chú gọi Âm Binh, Kinh Cầu Nguyện, và cộng thêm10 chử Buà của 10 Vị Tổ trong bài Thỉnh Tổ (cho Thầy mỗi đêm luyện và uống). Buà Phép của Chà Kha rất nhạy bén và công dụng sài cho trăm việc như: thư ếm, chửa bệnh, trục tà, lên đài đấu, sên dầu thơm ăn nói, buà chú thương, gồng, .v.v.,

Thỉnh Tổ và Hội Phép như sau:

Thỉnh Tổ: Cam Cò Cây, Cam Manh Manh, Cam Hanh Phanh, Cam Mành Mảnh, Cam Mây Nghanh, Cam Manh Nghanh, Cam Sắc Xi, Cam So Rẹc, Cam Chuốt, Cam Phược.

Hội Phép: Bờ Ri Ti Ti Tích Nặc, Bờ Ri Tích Ti Na Nặc, Phắc Cu Bờ Rích Nặc, Sắc Phịch Phổ Nặc, Ô Mạc Ten Ka Bơ Ra, Quýt Sơn Manh Manh Lơn.

Công dụng của bài hội phép, ngoài luyện ra còn có thể sên buà và dùng cho những chử buà Chà Kha mà không có chú kèm theo. Đây chỉ là căn bản cho người nhập môn luyện pháp Cha Khà, còn biến hoá và sử dụng thì nhiều lắm .

.KINH HỘ THẦN CHÚ CHÀ HỘ ĐỘ:

Chú của Chà (Hồi Giáo) công dụng trừ thù oán , hoá giải mọi sự công kích hãm hại mình , làm cho kẻ thù quên đi mình , mỗi chiều chạng vạng em ra sân (lộ Thiên) , đọc 7 lần thổi mỗi hướng . Tuần tự đông , tây , nam , bắc ….... vị chi 28 lần tất cả . Làm chừng 3 đến 7 ngày thì hay rồi , nếu em là nữ làm 9 ngày càng tốt ! Trước khi đọc thổi nên vái qua như sau :
CẦU XIN ƠN TRÊN TRỜI , PHẬT , THẦY TỔ , MẸ SANH ME ĐỘ , TRÊN ĐẦU TRÊN CỔ , CỬU HUYỀN THẤT TỔ , BÊN NỘI BÊN NGOẠI , CẢM ỨNG CHỨNG MINH PHÙ HỘ cho con ( tên họ tuổi v.v….cầu xin…..) (3 lần)


Sau đó đọc Chú Chánh sau đây thổi 4 hướng , 7 lần thổi mỗi hướng :
A A CẮC TA
A LY CÂY NA
CẮC TA NA BI
MA TY CẮC TA
A LO IN LA MÔ HA MÁCH
DA HU A CU BA XI .

Trong thời gian cầu tránh không ăn thịt heo tốt hơn , và câu này còn công dụng ra Tòa , kiện tụng , Quan Tư tất thắng.
. KINH HỘ SẮC LỆNH CẦU THƯỢNG ĐẾ- TỔ CHÀ:
Bís mi la hia rét ma nia ra him
A hu du bi ca ly ma tin la hi ta ma ti min colt y sạc ry ma kha lắc

Tướng Chà trừ tà, thư ếm đọc vái thổi vô nước cho uống và sên vô gạo
( không muối ) dải dưới giường bệnh nhân đó. Sáng dậy và trước khi đi ngủ mỗi ngày chỉ cần đọc 21 lần, khi đọc mặt xoay về hướng Tây, hôm nào mình làm bịnh mà dùng tới Chú này thì đừng ăn thịt heo.
Trước khi làm phép cầu Tổ Chà:

ÔNG HA LY ở tay mặt
ÔNG BU CÁCH ở tay trái
ÔNG U MƠI ở trán
ÔNG U SA MĂN ở ót
ÔNG TỔ CHÂU GIANG ở Cù Lao Ba tiếp độ cho đệ tử v.v…...
(Vái 3 lần như trên)
. KINH HỘ HÒA HỢP NAM NỮ-TRỪ KHẮC KHẨU:
Chử nầy có gốc Chà Hồi,vẻ màu đen vô khăn trắng có dầu thơm, lau miệng nói chuyện với bá xả cho không khắc khẩu nhau,thần chú : Bís mi la-ma na xê mô on lot. 

1. Nguồn gốc

Môn phái Trà Kha có nguồn gốc ở Phật giáo. Phật tổ khi còn mang xác tục, đi truyền giáo trong những thâm sơn cùng cốc, gặp nhiều cái nguy hiểm trở ngại gây ra bởi lòng tàn khốc của thổ dân. Thôi thì đủ thứ gian truân khổ ải : bị đánh đập, bị đâm chém. Tránh được lòng độc ác của con người thì lại sa vào nanh vuốt của thú dữ.

Ngọc Hoàng thượng đế thấy vậy mủi lòng thương, sai ba vị thần tướng xuống ủng hộ để diệt người ác, thú độc và giúp Phật tổ làm tròn sứ mệnh thiêng liêng là cứu vớt chúng sinh. Ba vị thần tướng đội lốt rắn khi ẩn khi hiện theo sau Phật tổ. Nhưng lòng lành của Phật tổ đã tràn ngập trong vạn vật đến nỗi Phật thương xót cả kẻ ác đã hại mình. Mỗi khi ba vị thần tướng quá tay làm hại một sinh mệnh là Phật lại sa nước mắt cầu thượng đế tha thứ cho kẻ ngu dại.

Thấy vậy ngọc hoàng phán cho 3 vị thần tướng phải truyền cho Phật một phép để hộ thân, chỉ để giữ mình mà thôi. Ba vị tuân mệnh dở phép thần thông khiến cho khi Phật bị đánh đập, đâm chém cũng không việc gì. Ba vị dưới lốt rắn quằn mình uốn khúc làm thành những hình thù kỳ lạ, Phật ghi chép lại những hình ấy và vẽ lại làm bùa. Ba vị truyền cho Phật những câu thần chú mà sau đó Phật gọi là kinh.

* Bùa Trà Kha : cái nào cũng như hình rắn uốn mình. Vẽ bằng son đỏ trên giấy vàng vì khi ba vị thần tướng dưới lốt rắn đỏ, quằn mình thành hình bùa trên bãi đất vàng.

* Kinh : tức là những câu thần chú, tuy nhiên kinh khác chú ở chỗ tha hồ lưỡi chạm răng.

* Cầu tổ : Đệ tử phải thành tâm tin tưởng thì có thể cầu Tổ được. Khi cầu Tổ nhập vào mình thì người sẽ mê đi, tay chân run động như có một linh hồn nhập vào mình. Đặc điểm của Trà Kha, khi cầu Tổ được thì người học cứ lao mình đi và phun phì phì như rắn. tuy nhiên không phải ai cũng cầu Tổ được dễ dàng.

: Tuy Trà Kha có gốc từ Phật giáo, nhưng không phải kiêng nhiều thứ khắt khe. Đệ tử Trà kha không được ăn các vật về loài bò sát, các thứ cá không vây, khế. Về cơ bản, thêm những điều kiêng cữ như các môn phái khác ( trâu, chó, rắn, rùa, baba, cá chép, đồ tanh, đồ sống ). Theo lời truyền, vì hóa thân của ba vị thần tướng là rắn, nên đương nhiên rắn tuyệt đối không được ăn, sát sinh. Và khi ba vị thần tướng thoát xác rắn thì trên cây khế, nên khế cũng không được ăn. Các đạo phù Trà kha không được xăm vào thân thể. Trong Trà kha, có thể dùng ngải cũng được. Binh Trà kha cúng chay, hay dùng 5 trái trứng luộc mà thôi + gạo, muối, nổ.
Интернет реклама
* Tranh Tổ : Để trên ban thờ như ta thờ bài vị. Tranh Tổ thể hiện cho ta một ý tưởng về gốc tích của Trà Kha. Có tranh trên vẽ Phật tổ từ bi, dưới có 3 ông rắn...hoặc thờ đạo bùa Tổ.
* Lễ vật : Bao giờ cũng cúng chay và đơn giản : Một cục than, một đĩa bỏng, một nải chuối, một đĩa hoa, một chén nước trong, 9 ngọn nến, 9 cây hương. Hoa cúng Phật, chuối, bỏng và than để cúng 3 vị thần tướng. Các loài vật tu có thể thành chính quả. Rắn - bụt không bao giờ ăn sinh vật, chỉ ăn than và các thứ hoa quả.
* Lời thề : Nhập môn Trà kha phải lập thệ trước ban thờ Tổ. Xưng tên tuổi, xin học phép Trà Kha và thề làm việc nhân đạo, giúp mình giúp đời, không bao giờ ỷ có phép Trà Kha làm điều sai quấy. Nếu trái lời thề xin Tổ thu phép và trừng phạt, không dám ân hận. 
Phần 2 : Truyền phép - lễ nhập môn
Thầy Trà Kha truyền phép cho đệ tử nhập môn trong 6 lần : sáu tối hoặc 3 ngày, mỗi ngày 2 lần. Muốn đơn giản có thể rút lại làm 2 ngày, như thế thì 3 buổi cuối cùng thư vào một buổi. Cũng không có hại gì cho người đệ tử và cho sự linh nghiệm cả, chỉ hơi khó nhọc cho người dạy.
Người đệ tử nếu chịu luyện cho đến cầu tổ được mà tính nết hết sức tốt thì thày sau khi xem xét kỹ, có thể làm lễ xuất sư cho, có nghĩa là được phép làm thầy.
* Khoán bùa : Có 2 cách khoán bùa : khoán trên giấy và khoán vào mình đệ tử. Vẽ bùa trên giấy rồi đốt một cây hương, họa bóng theo hình bùa, mồm đọc chú. Khoán vào người thì khoán đầu, ngực lưng, tay chân. Uống bao nhiêu bùa phải khoán bấy nhiêu. Cũng cần cây hương đang cháy và vẽ bùa trên mặt da. Như thế phải thuộc bùa lắm.
Khi khoán bùa phải hết sức tưởng Tổ, nghĩa là hết sức tập trung nghĩ vào việc mình làm, lúc khoán xong thì tưởng tượng tổ đã nhập vào mình rồi ngậm hơi thổi mạnh vào giấy bùa hay chỗ khoán trên mình.
Đệ tử phải mua 4 thước vải trắng và 2 thước vải đen. Thầy luyện phép vào vải để dùng khi truyền phép. Vải ấy sau này người dạy chôn một nơi như để yểm cho phép được lâu bền. Khi truyền phép thì vải trắng xếp dài quấn ngang cổ đệ tử, vải đen giải dưới chân.
Tối thứ nhất : Sau khi đã bày lễ vật, thiết lập ban thờ, thắp đèn, hương , nến, đọc kinh cầu Tổ

Kinh cầu Tổ 1
Bờ ri ti ti tít nặc
Bờ ri tít ti na nặc
Thách cu bờ rít nặc
Xắc phích lịch phổ nặc

Kinh cầu Tổ 2
Bờ ra tít ít xắc nặc
Bờ ra xao ti ni phịch mặc
Bờ ra chôn xắc xắc nặc
Bờ ra xây tha na mặc nặc
Bờ ra chôn bờ ruy dặc nặc

Trong tối thứ 3 này, đốt những bùa này ra tro, hòa với dầu lạc. Thầy ngậm dầu này vào mồm phun và thoa khắp người đệ tử. Sau một ngày mới được tắm rửa để không mất dầu. Theo lời truyền lại phải phun dầu để giữ cho những bùa mình đã uống còn mãi trong cơ thể, cho sự linh ứng huyền bí không mất đi được. Như thế, phun dầu rất quan trọng trong thời gian nhập môn.

Ngày đăng:
Lần 1: 12:59 ngày 21/09/2014
Lần 2: 12:59 ngày 29/03/2017
Share:

Giai thoại lịch sử: Phật quang núi Phổ Đà đuổi lính Nhật tháo chạy.


Phổ Đà Sơn cũng được gọi là Tiểu Bạch Hoa, Mai Sầm sơn nằm trong biển Đông Nam, huyện Định Hải, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc.

Ngọn núi dài mười hai dặm, rộng sáu dặm rưỡi, chu vi hơn bốn mươi dặm. Phía đông dẫn đến Nhật Bản, phía bắc tiếp với Đăng Lai, phía nam trông về Mân Việt, phía tây thông với Ngô Hội, cách mực nước biển hơn một ngàn thước, khí hậu ôn hòa, phong cảnh u nhã đặc biệt, là Thánh địa Phật giáo Trung Quốc. Ngọn núi này cùng với Nga Mi Sơn của Tứ Xuyên, Ngũ Đài Sơn của Sơn Tây và Cửu Hoa Sơn của An Huy hợp lại xưng là Tứ Đại Danh Sơn của Trung Quốc.
Tương truyền, đây là nơi đầu tiên Quán Thế Âm Bồ Tát phổ độ chúng sinh. Theo truyền thuyết Trung Quốc, Quán Thế Âm Bồ Tát vốn tên là Diệu Thiện, là con gái thứ ba của Sở Trang Vương thời Xuân Thu, từ nhỏ ăn chay tin Phật, một lòng xuống tóc đi tu, nhưng bị vua cha kiên quyết bác bỏ rồi giết chết. Nhưng Diêm Vương lại làm cho nàng sống lại trên một tòa sen trên chiếc hồ cạnh Phổ Đà sơn. Tại đây bà phổ độ chúng sinh, hành thiện giúp thiên hạ.
Có một truyền thuyết rất nổi tiếng, kể rằng vào năm 858, cao tăng người Nhật là Tuệ Ngạc thỉnh một bức tượng Quan Âm Bồ Tát từ núi Ngũ Đài lên tàu đưa về nước. Nhưng khi đi qua núi Phổ Đà thì bất ngờ trên mặt biển xuất hiện hàng lớp hoa sen làm tàu không đi được.
Cao tăng Tuệ Ngạc thầm hiểu Quan Âm không muốn sang Nhật Bản, ông liền chuyển bức tượng vào gần động Triều Âm ở trên đảo cho một ngư dân họ Trương thờ cúng, sau đó lại dựng lên một ngôi chùa, gọi là “Chùa Quan Âm không muốn đi”.
Kể từ đó núi Phổ Đà trở thành đạo trường thờ Quan Âm Bồ Tát, hương hỏa không dứt. Trải qua thời gian, chùa chiền mọc lên ngày càng nhiều. Vào thời thịnh nhất, toàn vùng núi có 4 ngôi chùa lớn, 106 am, hơn 4.654 nhà tu, lịch sử gọi là “Chấn Đán đệ nhất Phật quốc”.
Trong kiệt tác “Tây du ký” có đoạn tả cảnh khi Tôn Ngộ Không đến núi Phổ Đà bái kiến Quan Âm Bồ Tát như sau: “Nhưng nhìn kìa, đại dương mênh mông, thế nước đến trời. Tường quang lồng vũ trụ, khí lành chiếu non sông. Ngàn tầng sóng gào đến trời xanh, vạn lớp yên ba cuồn cuộn giữa trưa ngày…”.
Trong “Tây du ký” cũng từng tả lại cảnh Tôn Ngộ Không nhìn thấy Phật quang ở núi Phổ Đà, đây không phải chuyện thần thoại tự dựng lên mà trong hiện thực cũng nhiều lần xuất hiện. Theo sử sách ghi lại, đã từng có lần Phật quang núi Phổ Đà đuổi quân Nhật xâm lược tháo chạy.
Câu chuyện xảy ra vào tháng 7/1944, giai đoạn cuối thời chiến tranh chống Nhật. Lúc đó có khoảng 8.000 quân xâm lược Nhật Bản đổ bộ lên núi Phổ Đà. Đám lính làm trại ở bãi biển, phá hoại di tích, quấy rối người dân, giết mổ gia súc, gây nên một đại họa nơi thánh địa Phật giáo này. Những người dân không chịu nổi phải trốn vào trong chùa.
Vào một buổi tối, những đài hoa sen ở xa xa trên biển bỗng lấp lánh ánh đèn. Quân Nhật tưởng tàu chiến quân Mỹ tập kích vội dùng đèn thăm dò quét qua mặt biển nhưng lại không thấy gì. Một lúc sau, đèn đuốc trên biển ngày càng nhiều, nằm rải rác khắp mặt biển. Quân Nhật nghi hạm đội Thái Bình Dương của quân Mỹ tấn công, liền cho bắn đại bác tới tấp, tiếng đại bác làm chấn động khắp khu đảo, thế nhưng “quân địch” không có phản ứng gì.
“Đèn đuốc” theo thủy triều cuồn cuộn dâng đến, chiếu rõ mặt người trên bờ, nhưng không vào bờ. Lúc này quân Nhật tin vì mình làm rối loạn núi Phổ Đà, đắc tội với Quan Âm Bồ Tát nên đã quỳ rạp trên bờ biển rập đầu cầu xin Bồ Tát tha tội, sau đó hốt hoảng tháo chạy khỏi đất Phật. Mọi người dân khi đó đều nhận thấy đây là do “Bồ Tát phù hộ”, câu chuyện trở thành một giai thoại nổi tiếng lưu truyền đến ngày nay.
Khanhnguyen' s Blog sưu tập
Nguồn: Cộng đồng Phật Giáo Dấn Thân - Mạng XH Google Chủ nhân Cộng đồng: Phạm Ngọc Hải
Share:

Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2017

Câu chuyện “tái sinh” kỳ lạ và bí ẩn chưa có lời giải đáp


Câu chuyện thứ 1: Ngày 29/04/2005, vợ chồng anh Chaudhary sống tại Ấn Độ đã vô cùng đau xót khi đứa con trai 13 tuổi tên là Rakesh bị tai nạn xe máy và mất 5 ngày sau đó. Vài giờ trước khi Rakesh qua đời, vợ anh Chaudhary là cô Minaben bắt đầu có ảo giác, cô nói với chồng là Rakesh về nhà muốn tạm biệt mẹ và hứa sẽ quay lại.
Một năm sau đó, vào ngày 22/04/2006, cô Minaben sinh hạ một bé trai và đặt tên con là Rakesh. Rakesh và người anh đã mất giống nhau như đúc, và có cách cư xử giống hệt nhau. Điểm đặc biệt hơn là cậu biết tất cả những chỗ anh trai mình để đồ chơi, nhận ra những người họ hàng chưa bao giờ gặp.
Không chỉ có vậy, khi được đưa về quê của anh Chuadhary ở Palanpur, cậu bé cũng biết luôn tên của người chị họ Anila mới gặp lần đầu, cô bé này vốn ngày xưa là bạn thân của người anh trai đã mất của cậu. Rakesh cũng rủ cô bé chạy ra cái cây nơi 2 người thường chơi với nhau ngày xưa.
Câu chuyện thứ 2: Cô bé Samlini Permac sinh năm 1962 ở Colombo, Sri Lanka vô cùng sợ nước và ô tô. Mỗi lần phải tắm cô đều la khóc dữ dội. Cô bé sau đó kể lại quãng đời "kiếp trước" của mình, khi đi mua bánh mì vào thời điểm phố xá ngập lụt, bỗng có một chiếc xe buýt đi sát bên cạnh đã hất em xuống nước.
Em chỉ kịp giơ tay lên cầu cứu và hét lên "Mẹ ơi" rồi chìm hẳn vào giấc ngủ. Gia đình của cô bé rất bất ngờ và họ bắt đầu tìm hiểu thêm về những vụ việc tương tự như thế đã từng xảy ra ở đâu, và sau một thời gian hai người biết được câu chuyện một cô bé 11 tuổi từng chết đuối trong hoàn cảnh như thế, tất nhiên là từ khi Samlini chưa ra đời.
Câu chuyện thứ 3: Một sự việc nữa cũng khiến khoa học đau đầu, đó là sự việc diễn ra tại làng Nathul, phía Bắc Miến Điện. Cô gái MTin Aung Myo sinh ngày 26 tháng 12 năm 1953 trong một gia đình có 3 chị em gái. Ngay từ nhỏ, cô bé luôn tỏ ra mình là con trai, và luôn miệng nói rằng là người lính Nhật đã bị quân đồng minh bắn chết cách ngôi nhà của cha mẹ cô bé gần100m.
Cô bé rất sợ máy bay, nhất định không chịu mặc đồ con gái, nói tiếng Miến Điện rất khó khăn, thích ăn và nấu các món ăn theo khẩu vị của Nhật, và cô luôn tỏ ra buồn bã vì nhớ quê hương Nhật Bản của mình. Ma Tin Aung Myo cho biết gia đình "kiếp trước" của cô ở miền Bắc nước Nhật, trước khi nhập ngũ, "cô" là chủ một cửa hiệu nhỏ nhưng khi vào lính thì làm đầu bếp.
Nhưng cô bé không nhớ một tên tuổi hay địa danh nào cả và cũng không chịu kết hôn, bởi theo cô, cô là một người đàn ông và chỉ kết hôn với phụ nữ mà thôi.
Câu chuyện thứ 4: Chaokun Radzh-sutadzharn, sinh ngày 12/10/1908 ở miền Trung Thái Lan. Cha của cậu là Nai Pae, mẹ là Nang Rieng, tên thường gọi là Choti. Ngay từ khi biết nói, cậu bé đã cho mọi người biết mình là Nai Leng, người bác ruột đã mất khi cậu bé ra đời.
Đáng chú ý là cậu có cách gõ bàn hệt như ông bác, có thể nói và đọc được các thứ tiếng mà ông bác lúc sinh thời từng học, và ngoài ra biết chính xác từng chi tiết một trong cuộc đời ông bác ruột của mình. Sau này Choti đi tu ở một ngôi chùa ở Băng Cốc và sau đó xuất bản cuốn sách về sự luân hồi này.
Câu chuyện thứ 5: Anh Tân và chị Thuận cưới nhau được 6 năm mới sinh được cháu Nguyễn Phú Quyết Tiến (28/02/1992). Cháu Tiến lớn lên bụ bẫm, xinh xắn, trong sự yêu chiều hết mực của cả gia đình. Thế nhưng, đến năm cháu 5 tuổi, tai họa bất ngờ ập xuống.
Hôm đó vào buổi chiều tháng Giêng, anh Tiến đang nằm đọc báo bỗng giật nảy mình chồm dậy, ruột gan như lửa đốt. Anh gọi chị Tân bảo: “Thằng Tiến đâu, tìm nó về đi”. Chị Tân tìm gọi mãi nhưng không thấy Tiến đáp lại, ra phía bờ sông gần nhà chị chỉ nhìn thấy đôi dép cháu để trên bờ. Dưới dòng nước xanh ngắt nhìn thấu tận đáy, không thấy điều gì bất thường. Chị chạy về báo anh Tân. Bỏ tờ báo, anh hớt hải ra phía bờ sông thì nhìn thấy xác cháu Tiến nổi cách bờ 3m.
“Tôi lao xuống dòng nước, ôm chặt lấy con nhấc lên bờ. Nhưng tất cả đã quá muộn!”, giọng anh lạc đi, không giấu vẻ kinh hoàng khi nhớ về cái ngày đau thương ấy.
Cháu Tiến mất đi khiến cả anh Tân, chị Thuận đều như kẻ mất hồn. Nỗi đau càng nhân lên gấp bội khi chị Thuận do vấn đề sức khỏe đã “không còn khả năng làm mẹ” nữa. Trong cơn vật vã, bà cụ hàng xóm mà sau này anh Tân mới biết là “bà mế” có sang vỗ vai anh và bảo: “Con yên tâm, sớm muộn gì nó cũng tìm về với con thôi!”. Khi ấy vì quá đau buồn anh cũng coi lời bà như lời an ủi của những người hàng xóm tốt bụng khác.
Vắng tiếng cười trẻ thơ, căn nhà chỉ còn hai người lớn trở nên hoang lạnh hơn bao giờ hết. Là con một, phải chịu áp lực từ phía gia đình, anh Tân buồn bã chả thiết làm gì, suốt ngày ngơ ngẩn gần như người hóa dại.
Năm 2006, cả hai vợ chồng vẫn chưa nguôi nỗi đau mất con thì nghe có người rỉ tai ở Xóm Cọi, xã Yên Phú, Lạc Sơn, cách nhà anh chị chừng 3km có cháu bé nghi là “con lộn” của Tiến. Cháu tên Bùi Lạc Bình (sinh ngày 06/10/2002) là con một gia đình người Mường nhưng ngay từ khi biết nói đã khăng khăng bảo mình là con người Kinh, nhà trên thị trấn Vụ Bản.
Vốn chưa bao giờ tin có chuyện “đầu thai” như kiếp luân hồi của nhà Phật, nhưng hai anh chị vẫn đánh bạo tìm đến nhà cháu bé nọ. Thật bất ngờ khi anh chị đến nơi cháu không hề thấy lạ mà gọi bố mẹ xưng con và quấn quít không rời. Anh chị ngỏ lời mời chị Dự, người sinh cháu Bình, tên bố mẹ “mới” đặt, đến nhà chơi. Nghe thấy thế, Bình vui lắm, trèo phắt lên xe hào hứng như đứa trẻ lâu ngày được về nhà.
Vừa vào nhà, Bình đã chạy quanh nhà tìm đồ chơi mà Tiến trước kia thích. Cháu còn tự nhiên vào giường anh Tân, chị Thuận nằm lên đó rồi bi bô: “Ngày xưa con thường ngủ chỗ này nhỉ bố nhỉ?”. “Ngay khi nhìn thấy cháu, nghe cháu nói, và thấy những hàng động của cháu vợ chồng tôi như chết đứng. Tất cả đều giống hệt như cháu Tiến thủa trước, có khác chỉ là khác về hình hài mà thôi”, anh Tân kể.
Kể từ ngày gặp cháu Bình thì ăn ngủ chẳng yên bởi giữa hai người với đứa trẻ xa lạ dường như có mối thâm tình gì đó day dứt lắm. Nhớ cháu, thương cháu nhưng lại sợ người ngoài bảo muốn cướp con. Vợ chồng anh hiếm muộn, nhưng vợ chồng chị Dự-anh Hoan cũng chỉ có duy nhất cháu Bình là con.
Về phần chị Dự, sau lần đến chơi nhà ấy, cháu Bình cứ nằng nặc đòi về “nhà bố mẹ”. Thấy con nhèo nhẹo khóc, chị Dự cũng không biết phải làm sao. Đưa cháu về nhà anh Tân, chị Thuận chơi thì sợ người ta dị nghị là “thấy người sang bắt quàng làm họ”. Nhưng sau một lần Bình bị ốm nặng, sốt cao, cháu cứ luôn miệng “dọa”: “Mẹ không cho con về, con lại chết lần nữa!”. Hoảng quá, lần này chị đánh liều gọi cho anh Tân đưa cháu về nhà chơi. Cháu Bình về nhà anh thì khỏe khoắn, vui vẻ, không còn đau ốm nữa.
“Thấy cháu tha thiết quá, sau bao đắn đo chúng tôi dè dặt đề nghị gia đình anh Hoan, chị Dự cho cháu về ở với chúng tôi. Thật bất ngờ là cả vợ chồng anh chị và bà nội cháu đều gật đầu đồng ý. Chính bà nội cháu cũng bảo rằng: Ngay từ lúc thằng bé biết nói tôi đã biết nó không phải người Mường rồi”, anh Tân nói.
Theo lời anh Tân, kể từ ngày cháu về với anh chị, hết lần này đến lần khác hai người “thử” cháu. Thậm chí, nhiều người hàng xóm cũng sang nhà để “hỏi chuyện ngày xưa”. Tất cả cháu đều trả lời vanh vách. Từ tên bác hàng xóm, đến cô giáo mẫu giáo rồi bạn bè thân của cháu, cháu đều nhớ tên. Đường về nhà, hay những câu chuyện nhỏ nhặt như ngày xưa bà nội cho cháu uống bia ở đầu làng cháu cũng nhắc lại, ngay cả việc, “cháu đã từng chết như thế nào, bị ngã xuống nước ra sao”…
“Dù trước đó, chưa một lần tin có chuyện “hoang đường” như thế, nhưng đến lúc ấy cả vợ chồng tôi đều hoàn toàn tin rằng Bình chính là cháu Tiến, con chúng tôi 10 năm về trước”, anh Tân kể.
Từ ngày về ở với anh chị Tân, Thuận, Bình nằng nặc đòi gọi tên là Tiến, ngay cả tên đệm cháu cũng đòi giữ.
“Hãy coi con cháu những đứa trẻ bình thường”
Bé Tiến bây giờ đã bước sang tuổi thứ 9. Cháu trắng trẻo, khôi ngô, ngoan và lễ phép nhưng cũng hiếu động hệt như những đứa trẻ cùng trang lứa khác. Khi chúng tôi ngồi nghe anh Tân kể chuyện thì Tiến không ngừng nô đùa trước sân, chọc tổ ong khiến anh Tân mấy bận phải đứng dậy nạt cháu.
Câu chuyện dang dở thì chị Thuận mẹ cháu về, thoáng qua những dè dặt ban đầu, nhắc đến con chị cười nói xởi lởi lắm. Lần dở từng trang sách của cháu, đôi mắt chị vẫn ánh lên niềm hạnh phúc vô hạn: “Cháu đi học mấy năm liền đều đạt học sinh giỏi…”. Rồi chuyện trường, chuyện lớp, chuyện nghịch ngợm của trẻ nhỏ làm bầu không khí rộn ràng hẳn lên.
Mải chuyện đã quá trưa tự lúc nào, chị Thuận giữ chúng tôi ở lại ăn cơm, chúng tôi cũng vui vẻ đồng ý. Khi mâm cơm đã dọn tinh tươm, Tiến vẫn đứng ngoài sân mê mải đọc cuốn Hương Hiếu Hạnh của nhà sư Thích Tâm Hiệp viết về trường hợp “đầu thai” của Tiến. Nghe anh Tân bảo, nhà sư sau khi nghe câu chuyện của Tiến đã viết một bài in trong tập sách Hương Hiếu Hạnh và tặng anh chị một cuốn. Từ lúc rõ mặt chữ, Tiến lúc nào cũng cầm cuốn sách và đọc đi đọc lại câu chuyện kể về mình. Những câu chuyện ngày xưa cháu cũng dần quên.
Tôi đứng dậy gọi Tiến vào ăn cơm thì bất chợt cậu bé nắm tay tôi lắc lắc, chỉ ra phía con sông sau nhà: “Cô ơi, ngày xưa cháu chết ở kia kìa”. Dù đã nghe câu chuyện của cháu nhưng câu nói bất chợt của Tiến vẫn khiến tôi lạnh sống lưng.
Hiện giờ, Cháu Tiến giờ ở nhà tôi với tư cách là “con nuôi”. Cháu vẫn thường xuyên qua lại nhà mẹ đẻ…”.
Câu chuyện thứ 6: Ông Glenn Ford được thôi miên. Ông này không tin gì cả, ông nói ông không tin ở chuyện quá khứ, đầu thai. Nhưng ông đã nói ra đến năm kiếp khác nhau trong 5 sessions, 4 kiếp không kiểm chứng được nhưng có 1 kiếp kiểm chứng được. Đó là kiếp trong đó ông nói tiếng Pháp rất hay, một loại tiếng Pháp đặc biệt rất xưa. Khi nghe ông nói tiếng Pháp, BS mới hỏi ông đẻ ở đâu, làm gì thì ông trả lời tôi đẻ ở Paris, làm lính calvary, tức ngự lâm pháo thủ, làm ở triều vua Louis 14. Người ta đã thu lại băng ông nói chuyện. Chuyện này rất đặc biệt vì ông Glenn Ford này cả đời không hề biết tiếng Pháp. Người ta mới bảo ông diễn tả thành phố Paris. Trong lúc bị thôi miên, ông tả thành phố Paris như vậy như vậy... Họ lấy bản đồ thế kỷ 17 so sánh thì có đúng những con đường đó. Nhưng độc đáo hơn là mấy năm sau họ đem băng này nghe lại, trong số người nghe có một chuyên gia về ngôn ngữ Pháp. Ông này rất ngạc nhiên vì accent của ông Glenn Ford này là accent thế kỷ 17 và những danh từ ông dùng cũng là danh từ thế kỷ 17, bây giờ không ai dùng nữa cả. Độc đáo như vậy. Thành ra cái chuyện triết lý hồi nãy mình nói mình đi, sống, chết, đầu thai lại, chuyện đó có thiệt chứ không phải giả.
Câu chuyện thứ 7: Cách đây mấy mươi năm, ở Thủ Ðức có một nữ Phật tử tu tại gia. Vì vợ chồng cô là tín đồ thuần thành, trọng Phật kính Tăng, nên các sư thường đến ghé thăm, có khi được mời nghỉ đêm tại nhà. Thời đó, ảnh hưởng chánh pháp chưa được lan rộng, tuy cô đã thọ quy giới nhưng chưa hiểu rõ về đạo, nên trong nhà cũng có nuôi heo để thêm rộng rãi cho cuộc sống. Khi nọ, có một vị Hòa thượng đến nghỉ đêm tại nhà cô, nửa đêm chợt thức giấc nghe tiếng động dưới bộ ván mình nằm, và có giọng nói nho nhỏ rằng: "Tụi bây không biết, chớ tao tên là Nguyễn Thị Hòa (vì liên hệ gia đình xin giấu tên) bởi có thiếu bà chủ nhà này một số tiền, nên phải đầu thai ra thân xúc vật để trả nợ". Hòa thượng nghe xong lấy làm lạ, sẽ lén nhẹ nhàng cúi xuống rình xem, thì thấy một heo nái nói chuyện với mười hai heo con đang bú.
Sáng ra, Hòa thượng hỏi người tín nữ:
- Lúc trước có cô Nguyễn Thị Hòa thiếu cô một số tiền như thế, có phải không?
- Dạ thưa đúng như vậy. Nhưng cô ấy nghèo và bây giờ đã qua đời, nên con kể như bỏ luôn. Ủa! Mà chuyện này chỉ riêng mình con với cô ấy biết, ở nhà con cũng không hay, tại sao thầy lại hiểu rõ ràng như vậy?
Hòa thượng đem chuyện đêm hôm thuật lại. Cô chủ nhà cả kinh, vội đem bán heo mẹ lẫn mười hai heo con, thì thêm một việc lạ, số tiền thu được đúng với tiền cô Nguyễn Thị Hòa đã thiếu mình khi trước.
Trải qua sự này, cô tín nữ càng tin việc luân hồi nhân quả hiển nhiên là có thật. Từ đó cô tu hành thêm tinh tấn và cải gia vi tự, thành ra ngôi chùa Phước Trường hiện giờ. Tại chùa này, hiện nay linh vị thờ cô vẫn còn. Tiên đức đã bảo: "Súc sanh bản thị nhơn lai tố. Nhơn súc luân hồi cổ đáo kim!" (Súc sanh kia trước là người. Xưa nay người, súc luân hồi đổi thay!) Việc trên đây là một chứng minh cho lời này vậy. (Thuật theo lời Thượng tọa Thanh Từ, khi Thượng tọa đến diễn giảng và thăm chùa Phước Trường ở Thủ Ðức

Nguồn http://thienphatvien.com
Share:

Thứ Hai, 20 tháng 3, 2017

Một Hành Trình Tâm Linh Kỳ Lạ Nhưng Có Thật


Chỉ dẫn tâm linh, thiền, chiêm tinh, hoạt động huyền bí, con người “siêu phàm”, đánh thức kundalini (tạm dịch là Khai tâm, một thực hành được coi là nhằm kết nối với linh hồn của mình và đạt được thiền định khi nguồn năng lượng mang tính tâm linh (gọi là Kundalini) trở nên thức tỉnh và hoạt động – ND), phát triển những khả năng tâm lý, cầu nguyện với các cao thủ (guru), xuất hồn, thần số học (numerology), bói bài, gọi hồn, đi với các phù thủy, hầu đồng, theo Muktananda, Rajneesh, Sai Baba, Maharaji – tất cả những điều này và còn nhiều hơn nữa đã là cuộc hành trình tâm linh của tôi. Tôi đã bước vào con đường này như thế nào? – Marcia Montenegro, một nhân vật có tên tuổi trong giới chiêm tinh, tử vi và tư vấn tâm lý.
Tuy vậy, hành trình tâm linh của chính cô vẫn tiếp tục…
Muốn một điều gì đó hơn là cuộc sống bình thường
Tôi lớn lên cùng với người cha tin vào chiêm tinh và người mẹ hồi bé có đi nhà thờ. Chị tôi và tôi đã từng đi nhà thờ, bởi vì mẹ nghĩ đó là điều cần phải làm, mặc dù mẹ không phải lúc nào cũng làm vậy. Do bố làm trong ngành ngoại giao, nên chúng tôi di chuyển rất nhiều, và chúng tôi đã đến nhiều hội thánh khác nhau ở hải ngoại cũng như ở khu vực thủ đô Washigton, DC. Dần dần, tôi trở nên rất nghiêm túc về tôn giáo. Tại trường trung học, tôi nghĩ rằng trở nên một người tốt sẽ khiến Thượng Đế hài lòng và được lên thiên đàng. Nhưng đọc về các tôn giáo khác và gặp gỡ những người có niềm tin khác tôi đã khiến tôi băn khoăn. Có thể còn có nhiều hơn những gì tôi đang có (tức một chút kiến thức rất hời hợt về Thượng Đế và Chúa Giê-su) chăng? Tôi muốn một cái gì đó sâu sắc hơn, mang tính trải nghiệm hơn. Cơ đốc giáo có vẻ như chỉ toàn những bài thuyết giảng, đi đến trường Chúa nhật và làm việc thiện. Buồn tẻ quá! Tôi khao khát một điều gì đó khác! Hơn nữa, tôi chưa bao giờ thoải mái trong những năm học trung học. Là người làm thơ, nhưng sống trong một gia đình nát rượu, không có gốc rễ thật sự, tất cả những điều này gộp lại khiến tôi cảm thấy rất khác, không giống với những người khác. Tôi bắt đầu cuộc hành trình của mình vào thời gian cuối trong trường trung học.
Hoạt động huyền bí bắt đầu khi học đại học
Cuộc hành trình đó tiếp tục trong những năm đại học, khi tôi thực hành hoạt động huyền bí, kết bạn với một người nói cô ta nhìn thấy hào quang, và đến những buổi thông linh, nơi mà những người làm lễ tuyên bố có khả năng nhận được thông điệp từ người đã chết. Một buổi chiều quang nắng ở Florida, tôi đang nằm trên giường, hoàn toàn tỉnh táo, đôi mắt nửa nhắm nửa mở, bỗng nhiên tôi cảm thấy mình đang trôi. Tôi mở mắt ra và bàng hoàng nhìn thấy thân thể của mình trên giường phía dưới tôi còn tôi đang bay lơ lửng gần trần nhà. Tôi nghĩ tôi đã chết. Sự hốt hoảng khiến tôi rơi sập xuống rất đau đớn, và vào lại trong thân thể của mình. Đó là kinh nghiệm ngoài thân thể lần đầu tiên của tôi và tôi không biết đó là gì hoặc thậm chí tên gọi hiện tượng đó như thế nào. Tôi không kể với ai về điều đó.
Khả năng tâm lý và chiêm tinh
Cuộc hành trình kéo dài đến những năm 70 khi tôi thăm một nhà chiêm tinh và một số người khác có khả năng tâm lý, và đọc rất nhiều về hoạt động huyền bí. Tôi cũng đọc về đạo Hindu và Phật giáo. Tôi nhớ đã đọc sách về Vedanta (một trường phái của đạo Hindu) mỗi sáng tại quán nước ở tòa nhà nơi tôi làm việc. Tôi bắt đầu nhìn thấy những mối liên hệ trong cuộc sống tôi với màu sắc của các chakra, tức bảy trung tâm năng lượng tâm linh hay/và sinh lý trong cơ thể theo niềm tin của đạo Hindu. Điều này và những kinh nghiệm khác thôi thúc tôi lao vào những thế giới cuốn rũ của hoạt động huyền bí và những tín ngưỡng phương Đông.
Sau nhiều năm, cuộc tìm kiếm khả năng tâm lý của tôi càng leo thang. Tôi nghiên cứu chiêm tinh học và đã tham gia kỳ kiểm tra kéo dài 7 giờ về chiêm tinh học tại Atalanta, bang Georgia, do Thành phố tổ chức nhưng do một hội đồng chiêm tinh ra đề và chấm điểm, để được cấp chứng chỉ hành nghề. Thi đỗ, tôi bắt đầu thực hành chiêm tinh học, và dần dần tôi dạy về chiêm tinh học, nói chuyện trước công chúng, viết bài cho các tạp chí về chiêm tinh học và New Age (Thời Đại Mới), và trở thành thành viên hội đồng giáo khảo trong các kỳ thi về chiêm tinh học, ra đề và chấm điểm thi, rồi trở thành chủ tịch của hội đồng đó.
Các tôn giáo thế giới đưa ra thông điệp lẫn lộn
Tuy nhiên, với tất cả kiến thức và kinh nghiệm mà tôi đã có được, câu trả lời là gì? Vì tôi đi đến niềm tin rằng chỉ có sự thiếu hiểu biết, không có cái ác, nên những câu chuyện về tội ác hoặc giết người xấu xa khiến tôi cảm thấy thật khó chịu. Dù tin rằng tôi sẽ trở về sau khi chết, nhưng tôi sẽ đi đâu giữa khoảng thời gian đó và đi trong bao lâu? Các tôn giáo thế giới mà tôi cảm thấy hài lòng chỉ đưa ra những thông điệp lẫn lộn. Một số dạy rằng tôi đến một nơi nào đó giống như một trường học, sau đó sẽ chọn cuộc sống đời sau của mình. Người khác lại dạy rằng chúng ta sẽ đi đến một nơi để được thanh tẩy tâm linh – bằng cách nào thì không được giải thích – sau đó cuộc sống đời sau sẽ được lựa chọn cho chúng ta. Ai chọn? Điều đó cũng không được giải thích. Chúng ta chỉ phải tin tưởng vào quá trình đó.
Còn có một sự dạy dỗ gây bất an khác là tư tưởng nào có trong tâm trí tôi vào lúc chết sẽ quyết định kinh nghiệm sau khi chết trong một thời gian. Tốt nhất là đừng có tư tưởng xấu trong một thời gian quá dài! Tốt hơn hết là đừng đi ngủ với những hình ảnh khủng khiếp! Suy nghĩ về điều này thật đáng sợ – nhưng bản thân sự suy ngẫm ấy đã là một tư tưởng tiêu cực! Tôi cố gắng xua đuổi những sự sợ hãi đó đi bằng cách thiền hoặc tụng một bài kinh nào đó.
Tôn giáo thế giới: tìm kiếm sự bình an trong phương Đông
Tôi tìm kiếm sự bình an trong một trong những tôn giáo thần bí nhất thế giới: Phật giáo Thiền tông (Zen Buddhism). Cố gắng xả bỏ mọi ước muốn bao gồm việc thiền để mặc những ý nghĩ, sự sợ hãi, hoặc ước muốn xuất hiện và sau đó không đáp ứng trước chúng. Điều này cũng được áp dụng trong cuộc sống ngoài lúc thiền nữa. Với một người mang theo rất nhiều nỗi đau cảm xúc từ quá khứ và hiện tại như tôi thì điều này thật hấp dẫn. Nhưng mặc dù sự xả bỏ trong sách nào nghe đều hay nhưng cũng có cái giá phải trả. Sự xả bỏ này có vẻ giả tạo và không tự nhiên. Nhìn thấy “tánh không” (sự trống rỗng) đằng sau những gì xung quanh tôi, một dấu hiệu khác của sự nhạy bén tâm linh, đã khiến tôi trở nên thật hư vô và phiền muộn. Có lẽ nếu tôi theo đuổi những thực hành này chăm chỉ hơn, tôi có thể thể dần dần thay thế những phản ứng và cảm xúc tự nhiên của tôi bằng sự vô cảm chăng? Nhưng trở nên vô cảm, tiếp nhận mọi tư tưởng, hành động và cảm xúc một cách không suy xét thì có còn là người không?
Một mặt tôi được dạy phải trở nên tự nhiên và phải có tính “chính thể luận” (holistic), mặt khác sau đó lại được học rằng phải xả bỏ tất cả những phản ứng tự nhiên, có vẻ như mâu thuẫn. Tất nhiên, sự phân tích hợp tình hợp lý thế này gây thất vọng, thậm chí còn tấn công những gì tôi tin. Do đó, những sự mâu thuẫn có thể và cần phải được tiếp nhận. Nếu nó không có ý nghĩa thì càng tốt. Ý tưởng ở đây là vượt qua tâm trí lý luận, vốn là rào cản giữa tôi và sự giác ngộ.
Các tôn giáo thế giới: Cố gắng thiền chăm chỉ hơn
Mặc dù không đạt được sự xả bỏ (tình trạng tách biệt của ngã – detachment), tôi vẫn trung thành với sự dạy dỗ đầy nghịch lý của Thiền Tông, đọc sách có các câu chuyện của Thiền Tông, và tiếp tục thiền. Tôi thấy sự bình an mà tôi cảm nhận hồi mới thiền bắt đầu giảm đi, khiến tôi phải thiền nhiều hơn để lại nắm bắt được sự bình an trơn tuột ấy.
Tôi còn được biết, trong cuộc tìm kiếm những khả năng tâm lý của mình, là bản chất của thuật huyền bí và lối tư duy New Age (giáo phái Thời đại mới) là không có cái gọi là một câu trả lời duy nhất. Không có một chân lý duy nhất, và không có một hiện thực duy nhất. Chân lý dựa vào kinh nghiệm của bạn, nên nó thay đổi và khác nhau tùy từng người. Nếu có nhiều mức độ hiện thực và không có một chân lý tuyệt đối, thì phải có nhiều chân lý và hiện thực mâu thuẫn nhau. Nói ngắn gọn, đây là một món ăn kỳ diệu cho tư tưởng, dẫn đến sự thoải mái với bất kỳ một chân lý nào mà tôi muốn. Nhưng trong mứ độ thực tiễn, một chân lý có thể tạo nên sự khác biệt gì nếu một người cuối cùng đã khám phá ra nó? Hay làm thế nào để chúng biết có thực sự có một thứ như thế không? Và nếu không thì điều mà ai đó tin đâu có quan trọng gì? Những sự dạy dỗ này đưa ra những câu trả lời chỉ làm nảy sinh nhiều câu hỏi hơn.
Chúng ta chỉ là những giọt nước trong đại dương, tôi đã nhận ra điều đó, và mục đích là dần dần, sau nhiều đời sống, được chắp lại với sự hiệp nhất của vũ trụ mà có người gọi là Thượng Đế. Chúng ta ra từ thế lực Thượng Đế này và đó cũng là số phận cuối cùng của chúng ta. Điều đó có nghĩa là nhân cách của tôi, trí nhớ, tài năng, và con người của tôi sẽ bị nuốt chửng trong sự Hiệp nhất vũ trụ ấy. Tôi sẽ ở đâu? Câu trả lời gây bối rối là tôi sẽ không còn tồn tại nữa. Sự chết trở thành một đề tài cuốn hút nhưng vô cùng khó chịu đối với tôi.
Cách tốt nhất để giúp đỡ người khác và giữ đúng đường lối của mình, tôi được nghe và đọc đi đọc lại nhiều lần, là hãy hoàn thiện bản thân và yêu bản thân. Mặc dù nói về “tình yêu” là điều phổ biến và được dạy là điều căn bản cho vạn vật, nó cũng có vẻ là thứ mà mọi người sử dụng để biện minh cho bất kỳ điều gì mà họ làm. Do vậy, nếu chồng bạn không hợp với bạn về tâm linh, thì “tình yêu đích thực” cho phép bạn bỏ anh ta hoặc tìm một người khác là người thực sự có mối rằng buộc với bạn. Suy cho cùng, đây chính là “luật” của vũ trụ, luật tình yêu. Nhưng tình yêu này không được định nghĩa. Nó chỉ là một loại gì đó đang có – thế lực tình yêu đã tràn khắp vũ trụ này. Không có một thực thể có tính cá nhân để yêu tôi; chỉ có năng lượng đến từ Hiệp nhất vũ trụ này và thế mà thôi. Liệu một thế lực có biết quan tâm?
Tình yêu của Đức Chúa Trời so với các tôn giáo thế giới khác
Một sự thúc giục đi đến hội thánh không giải thích được đã nắm chặt lấy tôi vào mùa xuân và mùa hè năm 1990. Vì lúc đó tôi ghét Cơ đốc giáo, nhà thờ hoặc các Cơ đốc nhân, nên điều này khiến tôi rất bực bội. Lúc đầu tôi làm ngơ với sự thúc giục đó, sau đó chống lại nó, rồi sau một thời gian tranh chiến với nó, tôi quyết định làm theo, hy vọng rằng điều đó sẽ biến mất. Có lẽ do trong một kiếp trước tôi từng là linh mục hay tu sỹ, tôi suy luận vậy.
Vào trong những phút mở đầu của buổi thờ phượng tại một hội thánh lớn ở ngoại ô Atlanta, tôi đã cảm nhận tình yêu mà tôi chưa bao giờ biết đổ xuống trên và qua tôi, mạnh đến mức tôi bật khóc. Tôi biết đó là tình yêu từ Đức Chúa Trời, không phải từ âm nhạc, con người, hoặc địa điểm. Tình yêu ấy là một thứ rất thật. Ra từ một gia đình nát rượu, tôi đói khát tình yêu ấy. Chủ nhật tiếp theo tôi trở lại, không phải để có một kinh nghiệm khác, mà để tôi có thể ở nơi mà có lần tình yêu ấy đã đến trên tôi.
Tình yêu của Đức Chúa Trời quý hơn những khả năng tâm lý
Sau vài tuần, tôi bắt đầu cảm thấy trong chiêm tinh có gì đó không tinh sạch, mặc dù chẳng ai trong hội thánh này nói với tôi điều gì về chuyện đó. Tất cả những gì tôi biết là điều đó hình như ngăn cách tôi với Đức Chúa Trời của tình yêu thương này. Sau đó, tôi có cảm tưởng là Đức Chúa Trời không thích chiêm tinh học và muốn tôi từ bỏ nó. Từ bỏ công việc kiếm sống của tôi? Từ bỏ con người và mục đích của tôi ư? Ngoài con trai tôi, chẳng có gì quan trọng với tôi hơn là chiêm tinh học. Nhưng tôi cảm thấy tôi không có sự lựa chọn; tôi thấy rõ ràng là Đức Chúa Trời không thích chiêm tinh học. Thậm chí dù không tin nổi điều mình đang làm, tôi đã quyết định bỏ chiêm tinh học vào cuối năm 1990. Lúc đó tôi đang là chủ tịch của hội đồng giám khảo, thành viên của những hội đồng khác trong hiệp hội chiêm tinh học, và được xếp lịch dạy tại một lớp học sắp diễn ra. Tôi đã phải tìm một người giáo viên khác. Tôi phải nói với các khách hàng của tôi là tôi không còn là nhà chiêm tinh học nữa.
Rồi điều gì xảy ra? Nghĩ rằng phải đọc Kinh thánh nên tôi bắt đầu đọc sách Ma-thi-ơ, cuốn đầu tiên của Tân Ứơc. Đọc Kinh thánh khiến tôi được đụng chạm với một điều gì đó thật trong sạch, nhưng tôi không biết điều đó là gì. Mặc dù khi còn nhỏ tôi đã từng đọc Kinh thánh, nhưng lần đọc này thật khác. Tôi cảm thấy như mình đang được làm sạch từ trong ra ngoài khi đọc Kinh thánh.
Chúa Giê-su và hoạt động huyền bí
Con người của Chúa Giê-su khiến tôi kinh ngạc. Như là tôi đang học về Ngài lần đầu tiên. Một buổi chiều, khi đang đọc chương 8 của sách Ma-thi-ơ, ngay trước lễ Giáng sinh 1990, tôi nhận ra Chúa Giê-su thực sự là ai. Ngài đang trên thuyền cùng với các học trò thì một cơn bão lớn nổi lên. Các môn đồ sợ hãi và đánh thức Chúa Giê-su dậy, nói với Ngài rằng họ sắp chết. Chúa Giê-su khiến bão dừng lại! Bằng cách nào? Điều này không giống với những hoạt động huyền bí khác. Ngài không mường tượng mặt nước yên tĩnh. Ngài không phù phép. Ngài quở trách gió và biển, và chúng vâng lời Ngài. Như thế có nghĩa là Ngài có thẩm quyền trên thiên nhiên.
Tôi đã bị ngăn cách với Đức Chúa Trời bởi tất cả những gì tôi đã làm trong quá khứ – tôi đã sống cả cuộc đời dựa theo ý muốn các nhân, cái ý muốn khước từ và coi thường Đức Chúa Trời và Lời Ngài. Tôi nhận ra rằng cách duy nhất để được tha thứ, cách duy nhất để được hòa thuận với Đức Chúa Trời, là qua Chúa Giê-su, là Đức Chúa Trời và là con người, Đấng đã chịu khổ và chịu chết cho tôi, vì tình yêu thương lớn lao và không điều kiện. Tôi nhận ra Chúa Giê-su là Đấng Cứu chuộc, Ngài là Con Đức Chúa Trời và là Đức Chúa Con. Lần đầu tiên trong đời, tôi đã hiểu tại sao Chúa Giê-su chết trên thập tự giá.
Cuối cùng thì những câu hỏi của tôi đã được trả lời
Vào ít phút ngồi trên giường đọc Kinh thánh ấy, tôi đã biết rằng chân lý và câu trả lời cho tất cả những câu hỏi của tôi có một và chỉ một: Chúa Giê-su Christ. Một chân lý đơn sơ mà huyền diệu biết bao! Và vì thế tôi đã dâng đời sống mình cho Đấng Christ và biết rằng từ giây phút đó tôi thuộc về Ngài. Sau đó vài tháng, tôi phát hiện ra rằng có một thanh niên Cơ đốc trẻ tuổi đang làm việc bán thời gian tại chỗ tôi làm việc đã cầu nguyện cho tôi cùng với nhóm tín đồ tại hội thánh của anh ta trong năm 1990.
Chúa Giê-su rất khác so với các “ông chủ” mà tôi đã từng nghiên cứu. Ngài thực hữu hơn những người hướng dẫn tâm linh, hơn những giáo chủ, những con người siêu phàm – tất cả những thứ vô hình và khó nắm bắt không cho một bằng chứng nào về sự tồn tại của chúng – bởi vì Ngài đã đến trên đất trong xác thịt, Ngài từng đói, từng khát, từng cảm thấy đau đớn và buồn rầu. Ngài không đưa ra một thông điệp phủ nhận đất và cát bụi của cuộc sống, nhưng Ngài ngồi cạnh những người bị ruồng bỏ, những cô gái điếm, hoặc những người thâu thuế bị ghét bỏ, tuy vậy Ngài vẫn vô tội. Ngài vô cùng hiện thực. Dù hoàn toàn là một con người, Chúa Giê-su cũng hoàn toàn là Đức Chúa Trời nhập thể, ngang bằng với Đức Chúa Trời về bản chất nhưng đã đặt sang một bên vinh hiển (không phải thần tính) để ở giữa con người khốn khổ. Chúa Giê-su Christ đã tình nguyện chịu hành hạ, phó sự sống mình và chết một cái chết thống khổ nhằm trả giá cho tội lỗi của chúng ta. Ngài đã sống lại trong thân thể vào ngày thứ ba, chiến thắng sự chết, để chúng ta có thể có sự sống đời đời với Đức Chúa Trời.
Không có bùa chú nào, không có sư phụ tâm linh nào, cũng chẳng có Phật nào, pháp sư nào, thầy phù thủy nào, hoặc nhà tâm lý nào chiến thắng được sự chết, tất cả đều vẫn nằm bất động dưới nấm mồ của họ. Nhưng Chúa Giê-su có quyền trên sự chết và ngày nay Ngài đang sống.
Điều gì mà chiêm tinh học và những khả năng tâm lý không thể cung cấp
Về tâm linh, tôi đã nằm trong một nấm mồ chung với Đức Phật và các thầy bùa chú và những người tìm kiếm sự khôn ngoan nhưng chối bỏ chân lý của Đấng Christ. Những nghiên cứu phức tạp và rối rắm này đã mê hoặc tôi, những tầng tầng lớp lớp không hồi kết thúc của những chân lý và hiện thực mà tôi đeo đuổi, sự cố gắng liên tục tiến lên, những kinh nghiêm huyền bí, sự buộc phải tin vào lòng tốt của chính bản thân bằng mọi giá, tất cả là một mê cung và là một cái bẫy. Chân lý đủ đơn sơ cho một đứa trẻ và chân lý là một Thân Vị! Chúa Giê-su không dạy về một con đường hoặc nói Ngài có một con đường. Ngài nói Ngài là đường đi – không phải một trong những con đường, mà là con đường Duy Nhất (not a way, but THE way).
Sự khác nhau lớn nhất giữa đời sống cũ của tôi và đời sống trong Đấng Christ là gì? Có phải tôi hạnh phúc hơn, hoặc cuộc sống dễ dàng hơn? Chẳng phải như vậy. Sự khác nhau là tâm linh tôi được thỏa mãn. Còn có nhiều hơn để học hỏi và tăng trưởng, nhưng sự học hỏi và tăng trưởng xuất phát từ Đấng Christ như nền tảng chứ không phải là một cuộc tìm kiếm ngoài Ngài. Cuộc tìm kiếm đã kết thúc; cơn khát đã được dập tắt; cơn đói bên trong đã được khỏa lấp.
Chúa Giê-su phán:
“Vậy Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha.” – Giăng 14:6.
“nhưng uống nước ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa. Nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó, văng ra cho đến sự sống đời đời.” – Giăng 4:14
“Đức Chúa Giê-su phán rằng: Ta là bánh của sự sống; ai đến cùng ta chẳng hề đói, và ai tin ta chẳng hề khát.” – Giăng 6:35
“Đức Chúa Giê-su đến gần, phán cùng môn đồ như vầy: Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta.” – Ma-thi-ơ 28:18
“Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta.” – Khải huyền 3:20

Nhiều người theo đuổi những khả năng tâm lý và hoạt động huyền bí vì tìm kiếm sự thỏa mãn cho tâm linh của bản thân. Đức Chúa Trời mời gọi chúng ta đến với sự thỏa mãn ấy trong mối quan hệ với Ngài.
Nguồn: everyvietstudent.com
Share:

Thứ Năm, 2 tháng 3, 2017

Chuyên gia về luân hồi chia sẻ kinh nghiệm nghiên cứu ‘tâm linh’ trong giới khoa học Mỹ

2 October, 2016
Luân hồi vốn là một niềm tin phổ biến ở phương Đông hơn so với xã hội phương Tây. Tuy nhiên, khi nói đến việc dùng phương pháp thống kê và thực chứng để nghiên cứu luân hồi, có 2 nhà khoa học Mỹ mà chúng ta cần nhắc tới.
Tiến sĩ Ian Stevenson (1918–2007) là nhà nghiên cứu luân hồi của trường Đại học Virginia. Ông đã nhận được sự kính trọng của cộng đồng khoa học Mỹ vì những phân tích nghiêm túc, ngay cả khi ông có thể chưa thuyết phục được mọi người rằng luân hồi thực sự tồn tại.

Tiến sĩ Jim Tucker (Ảnh: Dan Addison/Đại học Virginia)

Mặc dù sống ở Mỹ, nhưng rất nhiều các đối tượng nghiên cứu của TS Stevenson lại sống ở Châu Á, đối với người Mỹ thì vẫn có một sự cách biệt xa xôi nào đó. Vì vậy, người tiếp bước của Ian Stevenson – Tiến sĩ Jim Tucker – đã mang việc nghiên cứu luân hồi trở lại Mỹ, một bước chuyển với rất nhiều lợi ích và thách thức, chủ yếu do những quan niệm của con người.

Khó và dễ trong nghiên cứu luân hồi ở Mỹ


return-to-life
Ở Mỹ, bạn sẽ không tìm thấy một Phật tử ở mọi ngóc ngách sẵn lòng đề cập đến cuộc đời tiền kiếp, hay cụ thể hơn, sẵn lòng lắng nghe khi con cái của họ có vẻ như đang đề cập đến kiếp trước của chúng.
Điều này không phải để làm giảm giá trị các thành quả của TS Stevenson. Ông đã ghi nhận được hàng nghìn trường hợp về những đứa trẻ dường như có thể nhớ lại được kiếp trước của mình. Một số “ký ức” có vẻ như quá chính xác đến nỗi TS Stevenson có thể lần theo kiếp sống trước đây của họ. Ông đã tìm thấy các biên bản điều tra về cái chết bất thường và các tài liệu khác nhằm xác nhận các chi tiết mà đứa trẻ đưa ra xoay quanh cái chết và những kiếp sống trước đây của chúng. Đây được gọi là những trường hợp luân hồi “đã được phá giải”.
Nhưng các trường hợp có tính thuyết phục ở Châu Á lại rất dễ bị bác bỏ ở Mỹ, cho rằng đó chỉ là những tưởng tượng theo tín ngưỡng.
Ở Mỹ, nếu một đứa trẻ đề cập đến người mẹ khác, hay cháu trai của nó, hoặc vụ hỏa hoạn đã cướp đi mạng sống… thì các bậc cha mẹ sẽ không lập tức nghĩ rằng đó có thể là các ký ức từ tiền kiếp.
Ở Mỹ, gia đình ít khi tác động đến đứa trẻ bằng những câu hỏi lèo lái hay chuyện kể về tiền kiếp. “Chúng ta không phải cân nhắc đến các yếu tố văn hóa gây sai lệch tiềm tàng như trong những trường hợp ở Châu Á”, TS Tucker nói.
Mặt khác, khi không có ai chủ động lục lọi các ký ức từ tiền kiếp thì chúng sẽ khó xuất hiện hơn. Nhưng TS Tucker đã cố gắng nghiên cứu các trường hợp có khả năng cao ở Mỹ, bao gồm một số trường hợp đã được phá giải có thể so sánh với công trình ở Châu Á của TS Stevenson.

Trường hợp cậu bé 2 tuổi ở bang Louisiana nhớ lại quá khứ trong chiến tranh

Một số gia đình Mỹ mà TS Tucker cùng làm việc đã thẳng thừng phản đối các đề xuất trao đổi về tiền kiếp. Chỉ sau khi các bằng chứng thuyết phục cho thấy đứa trẻ này đã nhớ lại được tiền kiếp xuất hiện – những bằng chứng đủ mạnh để thuyết phục những bậc cha mẹ đầy hoài nghi – thì TS Tucker mới có cơ hội trò chuyện cùng họ.
Lấy ví dụ, một ông bố theo đạo Tin Lành ở bang Louisiana vốn hoàn toàn phủ nhận ý tưởng về sự luân hồi trước đây, rốt cuộc đã bị thuyết phục bởi những chi tiết mà con trai ông đưa ra về tiền kiếp của cậu.
Khi con trai ông, Jame Leininger, được 2 tuổi, cậu bắt đầu có các cơn ác mộng kinh hoàng về một vụ rơi máy bay. Cậu nói rằng cậu đã bị quân Nhật bắn rơi, rằng máy bay của cậu cất cánh từ tàu Natoma, và rằng cậu có một người bạn tên là Jack Larson. Cậu cũng xác nhận được địa điểm rơi máy bay là Iwo Jima, từ một tấm ảnh.


Một bức vẽ của cậu bé James Leininger

Iwo Jima là một hòn đảo mà Mỹ đã đánh chiếm vào năm 1945. Tàu Natoma thật sự có liên quan đến Trận Iwo Jima. Một phi công đã chết trong trận chiến, và một phi công tên là Jack Larson cũng ở trên con tàu Natoma đó.
Leninger bắt đầu nói rằng cậu là James thứ ba. Người phi công mà đã chết ở trong Trận Iwo Jima có tên gọi là James Huston Jr. Điều đó biến James Leininger thành người tên James thứ ba, nếu cậu thật sự là sự luân hồi của người phi công này.


Cậu bé James gặp lại Jack Larson

“Chúng ta nên tiếp cận nó một cách hợp lý và đúng với cách tiếp cận tò mò của khoa học, cố gắng hiểu được hiện tượng mà không có bất kỳ quan niệm nào phủ đầu” – TS Tucker
Bản thân TS Tucker đã được nuôi dạy theo dòng tôn giáo Báp-tít Nam phương. Khi được hỏi về thái độ của gia đình với nghiên cứu của mình, ông chia sẻ: “Tôi không biết chắc họ nhìn nhận như thế nào về điều đó”. Mẹ ông khá ủng hộ, mặc dù ông không chắc bà có tin về sự tồn tại của luân hồi hay không. Vợ con ông cũng ủng hộ.
Ông cũng rất may mắn được làm việc với các đồng nghiệp ủng hộ ông ở trường Đại học Virginia. Khoa Nghiên cứu Nhận thức của trường là nơi hội tụ các nhà nghiên cứu các hiện tượng cận tử, hồn ma, các cảnh tượng trước khi chết, và các chủ đề khác có liên quan đến ý thức con người.
“Bạn sẽ không bao giờ biết được ai sẽ đón nhận điều này”, TS Tucker nói. “Nếu có thể chắc chắn thì lại là một điều khác, nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta nên tiếp cận nó một cách hợp lý và đúng với cách tiếp cận tò mò của khoa học, cố gắng hiểu được hiện tượng mà không có bất kỳ quan niệm nào phủ đầu”.
Ông cũng tiến hành các nghiên cứu mang tính truyền thống hơn song song với các nghiên cứu luân hồi. Tuy các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống có thể đo lường các hiện tượng với một độ chắc chắn làm người ta yên tâm, nhưng TS Tucker cho rằng có rất nhiều các chủ đề quan trọng mà không nhất định phù hợp với nghiên cứu truyền thống. Tuy nhiên, chúng vẫn nên được khám phá.

Lợi ích của nghiên cứu luân hồi

Nghiên cứu luân hồi có thể giúp một số đứa trẻ gặp khó khăn khi phải đối mặt với các ký ức từ tiền kiếp. Những đứa trẻ như vậy đôi lúc có thể trải nghiệm các triệu chứng của chứng Rối loạn căng thẳng sau chấn thương (post-traumatic stress disorder -PTSD), gây ra bởi những cảnh tượng khi qua đời một cách dữ dội. Một số trở nên bị ám ảnh, một số khác chỉ đơn giản nói quá nhiều về nhớ nhung những thành viên trong gia đình trước đây, đến nỗi trở nên kích động. Trong các trường hợp đã được phá giải, những đứa trẻ đã gặp lại gia đình của kiếp sống trước thường sẽ giải quyết được những vấn đề khiến chúng buồn phiền.
TS Tucker giải thích rằng đôi lúc việc này là hữu ích. Bởi vì ký ức của đứa trẻ đã được chứng thực, hoặc bởi vì đứa trẻ có thể nhìn thấy rằng gia đình cũ đã chuyển đi và rằng cuộc sống đó là thuộc về quá khứ. Dù thế nào, những đứa trẻ thường ngừng đề cập đến những kiếp sống trước đây khi được khoảng 6 hoặc 7 tuổi.
Ngoài ra, nghiên cứu này có thể giúp người Mỹ xác nhận niềm tin vào kiếp sau. TS Tucker hy vọng rằng nghiên cứu của ông có thể giúp mọi người đối xử với nhau tốt hơn, mặc dù ông nói rằng bất kể một niềm tin tâm linh nào, về luân hồi hay không, đều có thể có tác dụng trong phương diện này.
Liệu một ngày nào đó người Mỹ có cởi mở hơn với ý tưởng về sự luân hồi giống như trong văn hóa phương Đông hay không? “Tôi không nhất thiết thấy văn hóa Mỹ đang chuyển dịch theo chiều hướng này”, TS Tucker nhận định. Khoảng 20% người dân Mỹ tin rằng luân hồi có tồn tại, ông nói, nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy chiều hướng đó tăng lên. Nhưng người dân Mỹ có thể sẽ tin vào luân hồi hơn sau khi nghe kể về những đứa trẻ có khả năng nhớ lại tiền kiếp trong nền văn hóa của họ, hơn là những ví dụ từ một thôn làng nào đó ở bên kia Trái đất.
Rất nhiều thông tin những đứa trẻ nói tiền kiếp mà trùng khớp với những người thật đã qua đời, TS Tucker nói: “Sẽ rất phản logic nếu đó chỉ là ngẫu nhiên”.
Ông đã đưa ra ví dụ về một người phụ nữ ở Lebanon đã nêu chính xác 25 cái tên của những người trong tiền kiếp của mình kèm theo những miêu tả về mối quan hệ giữa họ. Trong quyển sách của ông có tựa đề “Return to Life: Extraordinary Cases of Children Who Remember Past Lives” (Tạm dịch: Trở lại cuộc sống: Các trường hợp đứa trẻ nhớ lại tiền kiếp đáng kinh ngạc), TS Tucker đã đưa ra rất nhiều các ví dụ về những đứa trẻ ở Mỹ và nước ngoài có thể nhớ được những kiếp sống trước, từ đó xác nhận niềm tin của ông vào sự tồn tại của cuộc sống sau khi chết.
Tác giả: Tara MacIsaac
Quý Khải biên dịch
Share:

Social Button


Tổng số lượt xem trang

Khách đang xem trang

Số lượng :

Comments mới nhất

Random Post

Mời bạn ghé thăm

PearLand Nails and Spa

Kết bạn cùng Blog Khanhnguyen

Cần bán gấp:


Trang Liên Kết

 
BACK TO TOP