Cảm nhận tư duy & Tổng hợp kiến thức
Hiển thị các bài đăng có nhãn lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 21 tháng 4, 2017

Cách uống chè

Cách uống chè thì trong sách Kiên biều đã nói rõ. Họ Lư, họ Lục nổi tiếng về uống chè. Đến đời Tống mới thấy bày đồ ấm chén, hỏa lò, cấp thiêu, đại khái cũng là những đồ để pha chè. Có ông Giới Phủ  thưởng chè Dương Tiễn, ông Tử Chiêm thưởng chè Vân Long. Từ đời Minh, đời Thanh trở xuống, cách chế chè càng tinh, đồ dùng chè càng đủ. Những thứ chè bồi sao, chế biến cũng khéo, và những các hồ, ấm, đĩa, chén, than, lửa, hỏa lò, cấp thiêu đều sắm sửa lịch sự cả. Nào là chè Võ Di, lò Thành Hóa, ấm Dương Tiễn, đều là những thứ tuyệt phẩm dùng để pha chè. Kể thói tục bày vẽ ra có lắm thứ khác nhau, nhưng chẳng qua cũng mấy thứ ấy mà thôi. Còn như chè tuyết nha, nước suối hồng tâm, dẫu các hạng phong lưu người Trung Hoa cũng chưa được nếm đủ hết, nên không dám nói đến.
Thị hiếu của người ta cũng hơi giống người Trung Hoa. Ta sinh trưởng đương lúc thịnh thời đời Cảnh Hưng, trong nước vô sự, các nhà quí tộc, các bậc công hầu, các con em nhà quý thích đều đua chuộng xa xỉ, có khi mua một bộ ấm chén, phí tổn đến vài mươi lạng bạc. Thường có nhiều người đến chơi các hiệu chè, thăm dò các phố buôn, vác tiền hết quan ấy chục khác để mua chè ngon. Lúc ngồi rỗi, pha chè uống với nhau, lại đánh cuộc xem chè đầu xuân năm nay sớm hay muộn, giá chè năm nay cao hay hạ. Kẻ thì ưa thanh hương, người thì thích hậu vị, kén hiệu trỏ tên, mua cho được chè ngon, bày khay chén ra nếm thử. Thậm chí có kẻ đặt tiền sẵn mua cho được hiệu chè Chính Sơn, gửi tàu buôn đặt cho được kiểu ấm chén mới lạ, cách hiếu thượng đến thế là cùng cực. Song cái thú uống chè tàu có phải ở chỗ đó đâu! Chè tàu thú vị ở chỗ nó tinh sạch sẽ, hương nó thơm tho. Buổi sớm gió mát, buổi chiều trăng trong, với bạn rượu làng thơ cùng làm chủ khách mà ung dung pha ấm chè tàu ra thưởng thức thì có thể tỉnh được mộng trần, rửa được lòng tục. Ấy, người xưa ưa chuộng chè tàu là vì vậy. Từ các đời gần đây trở xuống, thưởng thức chè tàu càng ngày càng tinh, vị chè nào khác, cách chế chè nào ngon, đều phân biệt kỹ lắm. Lò, siêu, ấm, chén, lại chế ra nhiều kiểu thích dụng. Song chế ra nhiều thứ chè, kẻ thức giả cũng cho làm phiền lắm. Còn như nếm chè ở trong đám ruồi nhặng, bày ấm chén ở cửa chợ bụi lầm, lúc ồn ào đinh óc, vơ vẩn rộn lòng, thì dẫu ấm cổ đẹp đẽ, chè ngon ngát lừng, ta chẳng biết uống chè như thế có thú vị gì không? Giá có gặp ông tiên chè, thì cũng cho lời nói ta làm phải.


Mùa thu năm Mậu Ngọ (1798), ta dạy học ở thôn Khánh Vân, tổng Hà Liễu, các học trò kinh thành cũng thường gửi quà về hỏi thăm, tuy cơm rau nước lã không được dư dụ cho lắm, nhưng chè tàu thì không lúc nào thiếu. Thôn Khánh Vân ở hạ lưu sông Tô Lịch, phía Bắc tiếp Xuân Nê, phía Nam gần Đỗ Hà; các núi Hoàng Xá về vùng Ninh Chúc, Tử Trầm, Nam Công thì vòng quanh ở phía Tây, còn những làng Nguyệt Cái, Đại Cái , Liễu Nội, Liễu Ngoại đều trông thấy ở gần chung quanh cả. Thổ sản có thứ vải quả, rau dưa, làng xóm rừng khe cũng nhiều chỗ tĩnh mịch đẹp đẽ . Khi dạy học rảnh, ta thường cùng với người đàn anh trong làng là Tô nho sinh dạo chơi chùa Vân, pha chè uống, hoặc trèo lên cái gò ba tầng ở phía tây xóm ấy, rồi múc nước suối pha chè uống chơi. Trông thấy những cảnh mây nổi hợp tan, chim đồng bay lượn, cùng là cỏ cây tươi tốt hay tàn tạ, hành khách lại qua, ta thường thường gửi tâm tình vào câu ngâm vịnh. Sau chỗ nhà trường ta là giải sông Tô, men theo bờ đê đi ngược lên đến cầu Nhị Khê là chỗ người làng qua lại nghỉ mát. Một buổi chiều, ta cùng với Tô huynh lên chỗ cầu xem các bè đánh cá, thấy đôi bên bờ sông bóng cây so le thấp thoáng, mảnh trăng in trên mặt nước trong veo, hai anh em cùng ngồi nói chuyện gẫu, bất giác tâm thần thanh sảng, thú vị vô cùng. Thấm thoát mới vài bốn năm nay, ta đã thôi không dạy học đấy nữa, mà Tô huynh thì đã qua đời. Tiền Mục Am có nói: "Cái vui về non nước bè bạn, tạo vật chưa dễ đã cho mọi người được hưởng, mà còn có phần lại khó hơn lợi lộc với vinh danh". Lời nói ấy chẳng là phải ru?
Từ đời Khang Hy trở về sau, uống chè tàu mới đổi ra pha từng chén nhỏ, chứ không hãm trong ấm to nữa, vì uống chè, ấm chén cốt nho nhỏ, mỏng, khi pha mới nổi hương vị. Vòi ấm thẳng thì nước không đọng, mặt đĩa phẳng thì đặt chén không nghiêng, rế lò dầy mà lỗ thưa thì than lửa không bốc nóng quá, lòng ấm siêu lồi lên và mỏng thì sức lửa dễ thấu, chóng sôi. Ấy, cái cách pha chè uống nước, mới đầu còn thô, sau tinh dần mãi ra.
Gần đây lại có chế ra thứ siêu đồng cũng khéo, nhưng kim khí bị hỏa khí nó hấp hơi, thường có mùi tanh đồng, không bằng dùng siêu đất nung, pha chè tốt hơn. Song các nhà quyền môn phú hộ khi uống chè lại lười không muốn pha lấy. Thường thường họ giao cho tiểu đồng pha phách tất cả, dùng siêu đồng cho tiện và lâu vỡ, như thế không phải bàn làm chi nữa. Khoảng năm Cảnh Hưng, ở Tô Châu có chế ra một thứ hỏa lò và một thứ than tàu đem sang bên ta bán, đều là những đồ dùng của khách uống chè cần đến, người ta đua nhau mua. Song gần đây đã có người biết cách chế ra, cũng bắt chước luyện than mà hầm lửa, nắm đất mà nặn lò, so với kiểu của Trung Hoa chẳng khác gì, người ta cũng ưa chuộng. Ta nhân thế lại tiếc cho người cầm quyền nước, xưa nay không biết lưu ý đến việc công nghệ dân ta. Tiếc thay!

Phạm Đình Hổ (Vũ trung tùy bút)
Nguồn Món ăn ngon
Share:

Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2017

Sông Tiêu Tương với văn hoá Kinh Bắc


Monday, 16 July 2012 02:07
Phạm Thị Thuỷ Chung. - http://www.vanhoahoc.vn
Kinh Bắc là quê hương của Lý Công Uẩn, vị vua đã có công sáng lập nên triều đại nhà Lý, triều đại huy hoàng mở đầu lịch sử nền quân chủ của quốc gia Đại Việt. Kinh Bắc cũng là quê hương của những làn điệu dân ca Quan họ đằm thắm - trữ tình. Kinh Bắc còn là cái nôi văn hoá của người Việt, vùng đất của các nhà khoa bảng, các danh nhân, các nghệ sĩ tài năng về thơ ca, nhạc họa. Bởi vậy, nói đến Kinh Bắc, chúng ta thường liên tưởng ngay đến một “kinh đô văn hoá” của người Việt suốt từ Cổ, Trung đến Cận đại. Vậy yếu tố nào đã kiến tạo nên vùng văn hoá Kinh Bắc rực rỡ trong suốt hàng nghìn năm qua? Câu trả lời: Đó là do “khí thiêng” của một vùng địa linh - nhân kiệt đã hun đúc nên văn hoá Kinh Bắc.
Câu trả lời nghe thật đơn giản, nhưng để đi tìm cái “khí thiêng” của vùng địa linh - nhân kiệt này, đã có nhiều nhà nghiên cứu với hàng trăm công trình khảo cứu - nghiên cứu đề cập tới. Vậy mà cho đến nay, văn hoá Kinh Bắc vẫn còn chứa đựng trong nó nhiều điều bí ẩn. Chính những điều bí ẩn này đã tạo nên sức hấp dẫn của văn hoá Kinh Bắc trong quá khứ cũng như trong hiện tại. Trong rất nhiều bí ẩn đang ẩn chứa trong lòng văn hoá Kinh Bắc, có một yếu tố văn hoá đặc biệt của vùng đất này mà cho tới nay vẫn còn là một dấu hỏi lớn đối với các nhà nghiên cứu, đó là dòng sông có tên gọi Tiêu Tương.
Tiêu Tương là một dòng sông cổ đã “chết” nhưng lại đang “sống” trong tâm thức người dân Kinh Bắc với những huyền thoại, những câu chuyện kể, những áng văn thơ và những làn điệu dân ca trữ tình. Tiêu Tương không phải là một con sông lớn nhưng lại được nhắc đến rất nhiều trong các tài liệu và các tác phẩm văn học suốt hàng nghìn năm qua. Tiêu Tương có lúc được nhắc đến rất cụ thể, có lúc lại rất mơ hồ như chưa từng tồn tại... Chính những yếu tố này đã khiến cho Tiêu Tương giống một dòng sông huyền thoại hơn là một chứng cứ lịch sử. Có lẽ vì vậy mà cho đến nay, các tài liệu thành văn nói về dòng Tiêu Tương rất khác nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau.
Để có được một cái nhìn cụ thể về dòng sông này, rất khó để chúng ta có thể đọc được một cách đầy đủ thông tin qua các tài liệu trong chính sử. Vì vậy, bên cạnh việc sử dụng những thông tin đã thu thập được qua các nguồn tư liệu thành văn, chúng tôi đã sử dụng phương pháp tiếp cận địa - văn hoá để xác định những thông tin đó qua quá trình điều tra điền dã tại thực địa. Kết quả bước nghiên cứu đầu cho thấy: Tiêu Tương không chỉ đóng vai trò quan trọng trong văn học và nghệ thuật mà còn là một chứng tích lịch sử quan trọng của người Việt trong quá trình xây dựng nền độc lập từ giai đoạn trước Công nguyên. Hơn thế, Tiêu Tương còn là một huyết mạch quan trọng trong việc chuyển tải, giao lưu văn hoá với các khu vực địa lý khác. Có thể nói, Tiêu Tương chính là một thành tố quan trọng đã góp phần hình thành nên vùng văn hoá xứ Bắc từ hơn 2000 năm qua. Xác định rõ thành tố nói trên cũng chính là mục đích của chúng tôi khi thực hiện bài viết này.       
1. Dòng sông trong văn hoá người Việt thời kỳ mở nước
Theo nghiên cứu của các nhà sử học thì quốc gia Âu Lạc của người Việt thời An Dương Vương vốn là sự thống nhất của hai bộ tộc Âu Việt ở vùng núi và Lạc Việt ở đồng bằng tạo nên quốc gia đầu tiên của người Việt. Người Việt Âu Lạc chọn sông - nước làm môi trường sinh sống và những vùng đất ven sông nghiễm nhiên trở thành các trung tâm văn hoá. Họ dùng nước làm phương thức di chuyển, đường thuỷ là hệ thống giao thông chủ yếu. Vì vậy, các dòng sông đối với người Việt đóng một vai trò quan trọng như những mạch máu trong một cơ thể sống. Bên cạnh việc sử dụng sông - nước làm mạch máu giao thông, người Việt còn sử dụng sông - nước làm hào luỹ thiên nhiên để chống lại kẻ thù. Thành Cổ Loa chính là một ví dụ điển hình cho loại hào “công sự” này. Sông - nước còn là môi trường để người Việt khai thác sản vật phục vụ cho đời sống. Và một yếu tố cực kỳ quan trọng đã tạo nên nền văn minh lúa nước của người Việt chính là môi trường sông - nước mà họ sinh sống. Có thể nói, sông - nước đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với người Việt cả trong đời sống sinh hoạt cũng như trong tâm thức của họ. Nói cách khác, tính sông nước chính là một đặc trưng của văn hoá Việt Nam
Tiêu Tương không chỉ là một huyết mạch giao thông quan trọng của vua An Dương Vương mà còn là một hào luỹ thiên nhiên che chắn, bảo vệ kinh đô Cổ Loa non trẻ của quốc gia Âu Lạc. Hơn thế, dòng chảy của Tiêu Tương còn chở mạch nguồn văn hoá của người Việt từ kinh đô đến khắp các làng quê. Cũng giống như Tô Lịch với Thăng Long - Hà Nội, Thu Bồn với Hội An hay Hương Giang với Huế, Tiêu Tương là một dòng sông mang đầy ắp các yếu tố văn hoá và là nguồn cảm hứng vô tận của những sáng tạo vượt thời gian và không gian. Tiếc thay, Tiêu Tương đã “chết” và sử sách thì rất ít nhắc tới. Mặc dù vậy, những giá trị văn hoá dân gian mà dòng sông này chứa đựng vẫn đang sống một cách hết sức mãnh liệt. Đó chính là nguồn tư liệu vô giá để chúng ta có thể làm “sống” lại dòng sông một thời vang bóng.
Thông qua bài viết này, chúng tôi hy vọng bước đầu sẽ tiếp cận được một phần trong những mối quan hệ của sông Tiêu Tương với văn hoá Kinh Bắc để xác định vai trò và vị trí của dòng sông này với văn hoá Kinh Bắc xưa và nay. 
2. Đôi nét về dòng sông cổ Tiêu Tương qua thư tịch và truyền thuyết dân gian
Nguồn sử liệu qua các thư tịch cổ cho đến nay chỉ nhắc đến sông Tiêu Tương một cách rất khiêm tốn. Trong đó, có rất nhiều tài liệu chỉ đề cập đến tên sông mà không nói rõ vị trí của nó nằm ở đâu trong hệ thống sông ngòi chằng chịt ở phía bắc sông Hồng. Vì vậy, trong bài viết này chúng tôi không trích dẫn những nguồn tài liệu đó. Tuy nhiên, trong số các tài liệu thành văn đã sưu tầm, chúng tôi cũng đã tìm ra được một số ghi chép tương đối cẩn thận. Sách Đại Nam nhất thống chí(1) chép: “sông Tiêu Lương cũ ở địa giới phủ Từ Sơn, phát nguyên từ cái đầm lớn xã Phù Lưu huyện Đông Ngàn, chảy từ phía tây sang đông bắc qua xã Tiêu Sơn huyện Yên Phong, chuyển sang địa phận hai huyện Tiên Du và Quế Dương vào sông Thiên Đức". Sách Địa chí Hà Bắc(1) ghi rằng: “Sông Tiêu Lương, còn gọi là sông Tiêu Tương, ở địa giới huyện Tiên Sơn phát nguyên từ hồ Lãng Bạc chảy từ phía tây sang đông bắc qua xã Tương Giang, Vân Tương, qua các làng quan họ nổi tiếng như Lim, Bưởi, Ó, Se, Bò... rồi chảy vào sông Cầu”... Ngoài ra, các công trình nghiên cứu của các học giả, các nhà nghiên cứu quen biết như: Đào Duy Anh (lịch sử), Nguyễn Văn Huyên (văn hoá), Lê Bá Thảo, Nguyễn Văn Tiệp (địa lý), Trần Quốc Vượng (lịch sử)(2) v.v... cũng có đề cập đến sông Tiêu Tương, nhưng cũng như những chi tiết chúng tôi đã trích ở trên, đều chưa đi đến thống nhất. Vì vậy, khi tiến hành khảo sát sông Tiêu Tương theo các tài liệu này chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, những chi tiết trong cuốn Đất nước Việt Nam qua các đời  của Đào Duy Anh được chúng tôi chọn làm “xuất phát điểm” cho quá trình điền dã thực địa. Trên cơ sở nguồn tài liệu này, chúng tôi nghĩ rằng trước khi đổ về đầm Phù Lưu, sông Tiêu Tương là một nhánh của sông Hồng, tách ra từ phía đông huyện Mê Linh, qua phía Bắc huyện Phong Khê, tiến gần sát phía Nam Cổ Loa... Phải chăng sông Hoàng Giang mà các tài liệu của các tác giả đi trước đã đề cập tới và Tiêu Tương đã từng chung một dòng? Hay nói cách khác, những tên sông đó phải chăng chỉ là tên của một dòng sông có tên gọi Tiêu Tương?
Để đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi này, công việc của chúng tôi là tiến hành xác định dòng chảy thực tế của sông Tiêu Tương. Tuy nhiên, trong số những tài liệu chúng tôi có hiện nay, không có tài liệu nào ghi chép đầy đủ và cho phép hình dung rõ nét về toàn bộ dòng chảy của con sông Tiêu Tương. Chính hình ảnh "thoắt ẩn, thoắt hiện" của con sông đã thôi thúc chúng tôi lần theo dòng chảy cổ xưa của nó. Và kết quả bước đầu cho phép chúng tôi đặt ra một giả thuyết: Sông Tiêu Tương là đoạn cuối của sông Hoàng (Hoàng Giang) trước khi nhập vào sông Cầu rồi theo Lục Đầu ra biển. Phải chăng chính dòng chảy này đã tạo nên một dải văn hoá của các làng quê ven đôi bờ sông, mang đậm đặc trưng của xứ Kinh Bắc, vùng đất được mệnh danh là cái nôi văn hoá của người Việt qua suốt các thời kỳ Cổ, Trung đến Cận đại? Đây sẽ là những nội dung mà chúng tôi muốn làm rõ trong quá trình nghiên cứu về dòng sông cổ đầy ắp huyền thoại này.
Một điều hết sức thú vị là sông Tiêu Tương tuy “mù mờ” trong chính sử nhưng lại được thể hiện rất “đậm nét” qua các truyền thuyết, các câu chuyện cổ, các áng thơ văn, âm nhạc... của dân gian hay qua các tên đất, tên làng - những địa danh văn hoá mà nó đi qua. Đây chính là nguồn dữ liệu sống rất có giá trị trong thực tế để chúng tôi kiểm chứng những giả thuyết mà mình đã đặt ra. Một trong những câu chuyện được nhiều người kể và cho tới nay vẫn còn lưu lại khá đậm nét trong tâm thức dân gian, đó là chuyện tình chàng Trương Chi. Chuyện kể rằng: “Ngày xưa, có một chàng đánh cá nghèo tên là Trương Chi sống trên sông Tiêu Tương, trong một chiếc thuyền chài nhỏ. Hằng ngày, chàng vừa tung chài, kéo lưới, vừa ca hát say sưa. Gần khúc sông nơi chàng thường đánh cá có lâu đài của quan Thừa tướng. Nàng Mỵ Nương con gái quan Thừa tướng hằng ngày nghe tiếng hát của chàng mà đem lòng yêu say đắm. Cho đến một ngày, chàng Trương Chi chuyển tới đánh cá ở một khúc sông khác. Mỵ Nương vì nhớ mong tiếng hát của chàng mà sinh ốm tương tư. Thừa tướng cho mời biết bao thầy thuốc tài giỏi trong vùng tới cứu chữa cho con gái yêu, thế nhưng chẳng thầy thuốc nào chữa khỏi được bệnh cho nàng. Biết được uẩn khúc trong lòng Mỵ Nương, quan Thừa tướng cho người tìm Trương Chi đưa về dinh của mình. Hằng ngày, Thừa tướng giao cho chàng nhiệm vụ sắc thuốc và hát cho Mỵ Nương nghe. Gặp mặt chàng đánh cá xấu xí và nghèo khổ, Mỵ Nương thất vọng và từ đó khỏi bệnh.
Chàng Trương Chi lại trở về với dòng Tiêu Tương thơ mộng. Từ đó, đến lượt chàng thầm yêu trộm nhớ nàng Mỵ Nương xinh đẹp. Ôm mối tình vô vọng, giận cho duyên phận hẩm hiu, chàng nhảy xuống sông tự vẫn. Hồn chàng sau khi chết nhập vào cây bạch đàn.
Quan Thừa tướng vô tình mua cây bạch đàn về, sai người tiện một bộ ấm chén uống trà rất đẹp. Lạ kỳ thay, mỗi khi rót nước vào chén, người ta lại thấy thấp thoáng hình bóng chàng đánh cá xấu xí trong lòng chén nước. Mỵ Nương cầm chiếc chén trên tay, cảm động vì chuyện xưa, giọt nước mắt của nàng nhỏ vào trong chén. Và, chiếc chén bỗng tan ra thành nước".(1)
Câu chuyện trên đây cũng giống như rất nhiều câu chuyện tình lãng mạn khác, nhưng điều đặc biệt là những cái tên Trương Chi, Mỵ Nương, Tiêu Tương... trong câu chuyện này đã trở nên rất đỗi quen thuộc đối với người dân Kinh Bắc; quen thuộc tới mức hầu như bất cứ một người già nào ở nơi này cũng đều thuộc một giai thoại hay một khúc hát về Mỵ Nương, Trương Chi hay Tiêu Tương. Điều đó cho thấy, sông Tiêu Tương mặc dù tới nay là con sông “chết” nhưng đã in sâu trong tiềm thức của người dân xứ Bắc. Hay nói cách khác, sông Tiêu Tương đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình kiến tạo nên bản sắc văn hoá xứ Bắc và là một trong những yếu tố tiền đề cho sự ra đời của vùng văn hoá Kinh Bắc.
3. Mối quan hệ của sông Tiêu Tương với vùng văn hoá xứ Bắc
Theo các thư tịch cổ (như Đại Nam nhất thống chí, Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục...) Kinh Bắc là nơi dân cư đông đúc, kinh tế phát triển, giao thông thuận lợi (chủ yếu là đường thuỷ dựa trên hệ thống các sông ngòi ở phía bắc sông Hồng). Nhà Hán mở con đường bộ từ Hồ Nam qua Ngũ Lĩnh đến Quảng Tây và kéo dài xuống phía nam sang đất Việt ta đến lưu vực sông Thương. Sau đó con đường này được kéo dài đến Long Biên, rồi đến Tống Bình (Hà Nội bây giờ). Đây chính là con đường bộ từ phương bắc sang nước ta, chạy qua đất Vũ Ninh, dựa theo bờ sông Tiêu Tương(1). Thời phong kiến, con đường này là con đường đi sứ giữa nước ta với Trung Quốc, được gọi là Quan lộ. Đồng thời, đây cũng là con đường quân sự, con đường giao lưu kinh tế, văn hoá quan trọng của các lộ phía bắc nước ta. Thời Pháp thuộc, Quan lộ được nắn thẳng và mở rộng thành Quốc lộ 1. Cho tới ngày nay, đây vẫn là một huyết mạch quan trọng hàng đầu trong hệ thống giao thông của nước ta.
Với những đặc điểm nói trên, vùng văn hoá này đã được tiếp cận khá sớm với văn hoá phương bắc. Việc học hành, thi cử ở đây rất thịnh. Một đặc điểm nổi bật nữa của Vũ Ninh là sự ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo. Chùa Pháp Vân ở Thuận Thành, chùa Kiến Sơ ở Phù Đổng là những chùa có rất sớm và nổi tiếng ở Việt Nam từ thời Bắc thuộc. Theo Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang (bút danh của Hoà thượng Thích Nhất Hạnh - người Việt Nam đầu tiên vinh dự được đề cử nhận giải Nobel hoà bình) thì chùa Dâu ở Bắc Ninh chính là một trong ba thánh tích Phật giáo sớm nhất ở Trung Hoa và Việt Nam có từ những năm đầu Công nguyên (hai trung tâm khác là Lạc Dương và Bành Thành ở Trung Hoa). Vào thời Lý, đạo Phật chiếm vị trí độc tôn trong xã hội nên rất nhiều chùa chiền đã được xây dựng tập trung trên đất của bộ Vũ Ninh. Chính những nét văn hoá này là yếu tố cấu thành đặc trưng văn hoá của vùng đất Kinh Bắc: Vừa mang tính hồn nhiên, bình dị của một nền văn hoá dân gian, lại vừa kín đáo và mang tính triết lý sâu xa của một nền văn hoá bác học.
Để hiểu rõ hơn về mối quan hệ của sông Tiêu Tương với văn hoá Kinh Bắc thì việc tìm hiểu những địa danh văn hoá mà con sông này chảy qua đóng vai trò quyết định trong quá trình nghiên cứu của chúng tôi.
Dọc theo chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông ta có rất nhiều địa danh nổi tiếng trong lịch sử gắn với Hoàng Giang, Tiêu Tương. Và địa danh đầu tiên chúng tôi chọn khảo sát là Cổ Loa. Khi xây thành Cổ Loa, An Dương Vương đã lợi dụng Hoàng Giang tạo nên các đoạn hào tự nhiên để bảo vệ thành(1). Cổ Loa đã đi vào sử sách với vị thế là đô thành của An Dương Vương, triều vua khai sáng của người Việt từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Khi nhà nước Âu Lạc sụp đổ, đất nước lại rơi vào tay nhà Hán. Trải qua hơn một nghìn năm bị đô hộ, chiến thắng lừng lẫy của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc. Với ý chí xây dựng lại cơ đồ của cha ông, Ngô Quyền tiếp tục định đô tại Cổ Loa(2). Và Cổ Loa lại trở thành kinh đô của người Việt và là đất Kinh Bắc trong giai đoạn thuộc Hán. Ngày nay, Cổ Loa thuộc địa phận Hà Nội, thủ đô của nước Việt Nam. Vùng đất này đã trở thành một địa danh lịch sử - văn hoá quan trọng của thủ đô, chứa đựng trong lòng mình một kho tàng văn hoá vô cùng quý giá có thể minh chứng cho bao sự đổi thay của đất nước trên những chặng đường lịch sử.
Nối liền với Cổ Loa, Dục Tú là một trong những địa danh văn hoá quan trọng tiếp theo nằm ven bờ sông cổ. Một điều rất lý thú là Dục Tú trong hơn hai nghìn năm qua đã ngẫu nhiên trở thành mảnh đất ngoại thành của ba trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá quan trọng của người Việt từ thời An Dương Vương đến nay, đó là Cổ Loa, Kinh Bắc và Thăng Long - Hà Nội. Do không đóng vai trò là trung tâm chính trị nên Dục Tú ít bị tàn phá bởi các thế lực đối kháng như với Cổ Loa và Thăng Long - Hà Nội. Chính điều này đã khiến cho các di sản văn hoá của người Việt nơi đây tồn tại một cách liền mạch.(1)
 Một truyền thuyết trong dân gian còn lưu lại cho biết: Trong thời gian ở Cổ Loa, Ngô Quyền đã lấy vợ là một cô gái cắt cỏ nghèo mang họ Đỗ, quê ở Dục Tú. Do người vợ này không thể có con nên sau đó đã được ông ban lộc và cho về quê sinh sống. Bà phi họ Đỗ đã xin với Ngô vương cho mở mang quê nhà. Lúc bấy giờ, Dục Tú còn ở trên bãi sông. Bà phi thả một quả bưởi xuống dòng Hoàng Giang, xin rằng quả bưởi trôi đến đâu, sẽ được cắm địa giới làng Dục Tú đến đó. Quả bưởi của bà đã trôi tới sát chân thành Cổ Loa rồi dừng lại. Hoàng Giang đã trở thành gạch nối gắn kết giữa Cổ Loa và Dục Tú từ đó.
Trong khi điền dã, chúng tôi đã được nghe các cụ già ở Dục Tú kể lại là cách đây vài chục năm, giữa hai thôn Tiền và Hậu là một dãy ao chạy dọc theo chiều dài của làng. Dân hai thôn chiều chiều ra cầu ao rửa rau vẫn thường trao đổi những câu chuyện lợn gà, tấm cám... Ấy vậy mà giọng nói của hai thôn lại hoàn toàn khác biệt. Như vậy, có thể dãy ao đó xưa kia chính là khúc sông Hoàng (Hoàng Giang) chảy qua DụcTú. Một dấu vết khác của dòng sông đã từng chảy qua Dục Tú là cánh đồng Rộc Sổ. Lúa trồng ở đây tốt nhanh kỳ lạ. Khi lúa đương thì, cả cánh đồng lúa tốt như một rừng lau, bông lúa cao ngút đầu người. Sở dĩ lúa ở đây tốt tươi như vậy là bởi vì được nuôi dưỡng bằng nguồn phù sa đọng trong lòng sông cũ. Những di vết của dòng sông này tiếp tục “dẫn” chúng tôi đến một làng quê Kinh Bắc khác đó là Phù Lưu.
Phù Lưu là nơi nổi tiếng trù phú của đất Kinh Bắc xưa, với đình Phù Lưu, với con đường làng lát đá phiến màu xanh, với đầm Phù Lưu mang đầy màu sắc huyền thoại của những câu chuyện kể về dòng Tiêu và chàng Trương. Từ Phù Lưu, sông Tiêu Tương len lỏi qua Dương Lôi, quê hương của bà Phạm Thị, mẹ của đức Lý Thái Tổ. Sau đó dòng sông này chảy giữa hai xã Tam Sơn và Tương Giang. Đất Tam Sơn xưa kia tương truyền là nơi có nhiều người đỗ đạt. Vì thế, theo truyền thuyết dân gian, đây là nơi có dinh quan Thừa tướng, cha của nàng Mỵ Nương. Cũng chính tại nơi đây đã ghi lại câu chuyện cảm động về mối tình của chàng Trương Chi với nàng Mỵ Nương. Gần như song song với Quốc lộ 1, sông Tiêu Tương tiếp tục chảy giữa các làng Quan họ, qua Lim, Xuân Ổ, Võ Cường, ... rồi đổ về sông Cầu để từ đó theo dòng Lục Đầu mà ra biển.
Kết quả khảo cổ thu được tại Phù Lưu cho thấy dấu vết của một công xưởng chế tạo đá (Bãi Tự) có quy mô khá lớn. Người ta đã tìm thấy ở đây hàng trăm lưỡi cưa và mũi khoan đá, cùng rất nhiều phế vật, phác vật. Di chỉ này trải rộng và lan cả đến địa phận xã Tương Giang. Tại Xuân Ổ, người ta cũng đã phát hiện ra di chỉ Vườn Mao. Khi đào thám sát khu vực này đã thu được nhiều bàn mài, chày nghiền, đục đá, mảnh vòng đá, mũi nhọn đá... Một điều khá thú vị mà các nhà khảo cổ học đã xác định được là niên đại của các di chỉ vừa liệt kê trên đây đều mang nhiều yếu tố của văn hoá sơ kỳ thời đại đồng thau của nước ta (thuộc giai đoạn Phùng Nguyên muộn - Đồng Đậu sớm)(1). Những hiện vật như vậy cũng đã được tìm thấy tại di chỉ Bãi Mèn ở Dục Tú. Sự đồng đại của chúng cho phép chúng ta khẳng định dấu tích của người Việt cổ đã tụ cư lập làng và tiến hành những hoạt động kinh tế - xã hội phong phú ven bờ sông Tiêu Tương từ 2500 đến 3.500 năm. 
Tại Phù Lưu, chúng tôi đã khảo sát một chứng cứ quan trọng, chính yếu tố này đã minh chứng cho nguyên nhân dẫn đến “cái chết” của dòng Tiêu Tương, đó là đầm Phù Lưu. Theo tài liệu Lịch sử truyền thống làng Xuân Ổ thì đầm làng Phù Lưu là dấu tích của sông ĐuốngVào thế kỷ XV, do Hồ Quý Ly cho đào lòng sông để uốn thẳng dòng chảy, sông Đuống đổi dòng, từ đấy sông Tiêu Tương bị mất nguồn nước và bị bồi lấp dần. Chứng cứ này về thời điểm lịch sử thì đáng tin vì việc nắn dòng sông Đuống là có thật. Tuy nhiên, về vị trí địa lý có đúng như đã dẫn ở đây hay không thì còn phải tìm hiểu thêm.  
Ngày nay, sông Tiêu Tương đã bị lấp gần hết, có chỗ bồi thành ruộng, có đoạn đắp thành đường. Chỉ còn đây đó một vài khúc sông còn sót lại và được gọi là ao, đầm... Nhưng, dòng sông đẹp gắn với những truyền thuyết và mạch nguồn văn hoá cổ truyền của vùng đất Kinh Bắc xưa vẫn còn sống động trong lòng văn hoá dân gian. Điều gì đã khiến cho con sông này trở nên hấp dẫn đến vậy? Đó chính là sức sống mãnh liệt của các giá trị văn hoá dân gian và sự cuốn hút của một dòng sông đã đi vào huyền thoại.
Như vậy, sông Tiêu Tương không chỉ là một dòng sông mang đầy ắp những yếu tố huyền thoại mà còn là một dòng sông chứa đựng trong nó rất nhiều những yếu tố lịch sử. Rõ ràng, mối quan hệ giữa sông Tiêu Tương với văn hoá Kinh Bắc là một mối quan hệ lịch sử văn hoá hết sức chặt chẽ: Sông Tiêu Tương góp phần kiến tạo nên văn hoá Kinh Bắc và chính văn hoá Kinh Bắc đã lưu giữ lại dòng sông huyền thoại trong tiềm thức của người dân Kinh Bắc. Có thể nói, sông Tiêu Tương đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự hình thành nên các địa danh văn hoá ở Kinh Bắc và chính những địa danh văn hoá này đã cấu thành vùng văn hoá Kinh Bắc rực rỡ trong suốt hàng nghìn năm qua.
4. Một vài kết luận bước đầu và một số nghi vấn
4.1. Một vài kết luận
a) Sông Tiêu Tương là một dòng sông có thực nhưng đã “chết”. Tạm thời, chúng ta có thể hình dung dòng chảy của sông Tiêu Tương bắt nguồn từ một nhánh sông Hồng đi qua Cổ Loa, Dục Tú, Phù Lưu, Dương Lôi, Tam Sơn, Tương Giang, Lim, Xuân Ổ,... tạo nên một dải văn hoá làng ven sông mang đặc trưng của văn hoá Kinh Bắc.
b) Sông Tiêu Tương, cùng với sông Đuống, sông Cầu... đã hình thành nên một hệ thống giao thông thuỷ có vai trò đặc biệt quan trọng với Kinh Bắc trong quá trình dựng nước và giữ nước của người Việt kể từ khi An Dương Vương xây dựng quốc gia Âu Lạc.
c) Bên cạnh vai trò là huyết mạch giao thông từ thời An Dương Vương, Tiêu Tương là một con đường giao lưu kinh tế và truyền bá văn hoá từ trung tâm Cổ Loa tới các khu vực dân cư nằm ven bờ dòng sông cổ.
d) Những địa danh văn hoá có tên gọi liên quan đến Tiêu Tương như núi Tiêu, chùa Tiêu, Tương Giang... chính là di vết văn hoá của dòng sông cổ Tiêu Tương đã “hoá thạch” trong văn hoá dân gian Kinh Bắc.
4.2. Một số nghi vấn
Theo các tài liệu trong chính sử mà chúng tôi đã dẫn ở mục 2 như Đại Nam nhất thống chí, Địa chí Hà Bắc, thì sông Tiêu Tương khởi nguồn từ hồ Lãng Bạc hoặc đầm Phù Lưu và đổ vào sông Cầu. Như vậy, các tài liệu này mới chỉ đề cập đến một nửa cuối của con sông. Tất nhiên, hồ Lãng Bạc hay đầm Phù Lưu không thể “tự tạo” được nguồn nước cho Tiêu Tương. Vậy nguồn nước của sông Tiêu Tương (ngoài giả thiết do chúng tôi đặt ra là từ Hoàng Giang) do đâu mà có?   
Theo Lịch sử truyền thống làng Xuân Ổ thì do việc Hồ Quý Ly nắn dòng sông Đuống khiến Tiêu Tương bị cạn nước trở thành dòng sông chết có chính xác hay không? Nếu chưa chính xác thì cần phải xác định lại như thế nào?       
Trong quá trình điền dã, điều tra tại thực địa, một số người dân đã nói với chúng tôi rằng: Tiếng hát của chàng Trương Chi xưa chính là tiếng hát của những làn điệu dân ca Quan họ mà chúng ta được nghe hôm nay. Đây quả là một thông tin bất ngờ và thú vị nhưng cơ sở nào để xác định đó là sự thực?...
Để kiểm chứng tất cả những thông tin trên, chúng tôi còn phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về dòng sông cổ đầy ắp huyền thoại này. Trong khuôn khổ của một nghiên cứu chuyên khảo đang trong quá trình phôi thai, chúng tôi không dám đưa ra nhiều kết luận mà chưa qua kiểm chứng thực tế. Hy vọng trong tương lai, chúng tôi sẽ có một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh về dòng sông cổ Tiêu Tương; để từ đó có thể giúp cho bạn đọc có thêm một nguồn tài liệu tương đối đầy đủ và chính xác về dòng sông này và vai trò của nó đối với văn hoá Kinh Bắc cũng như văn hoá của người Việt trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đại Nam nhất thống chí, Nxb Khoa học xã hội, H, 1971
2. Việt sử lược, tác giả khuyết danh đời Trần, thế kỷ XIV, Trần Quốc Vượng phiên dịch và chú giải, Nxb Văn - Sử - Địa, H, 1960
3. Đất nước Việt Nam qua các đời, Đào Duy Anh, Nxb Thuận Hoá, Huế, 1997
4. Địa chí Hà Bắc, Thư viện Hà Bắc xb, 1980
5. Thiên nhiên Việt Nam, Lê Bá Thảo, Nxb Khoa học kỹ thuật, H, 1977
6. Trên mảnh đất Cổ Loa lịch sử, Trần Quốc Vượng, Sở Văn hoá- Thông tin Hà Nội xb, 1970
7. Văn hoá Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm, Trần Quốc Vượng, Nxb Văn hoá dân tộc - Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, H, 2000
8. Tìm hiểu âm nhạc dân tộc cổ truyền, Tô Ngọc Thanh - Hồng Thao, Nxb Văn hoá, H, 1986
9. Quan họ, nguồn gốc và quá trình phát triển, Đặng Văn Lung - Trần Linh Quý - Hồng Thao, Nxb Khoa học xã hội, H, 1978
10. Chuyện âm nhạc, Hồng Thao sưu tầm, Nxb Thanh Niên, H, 1978
11. Tài liệu Lịch sử truyền thống làng Xuân Ổ, Nguyễn Kỳ Chúc chủ biên
12. Văn bia Văn miếu Bắc Ninh, Nguyễn Quang Khải dịch và chú giải, Nxb Văn hoá dân tộc, H, 2000


(1)
(2) đã hào phóng tặng cho người Việt trong giai đoạn đầu xây dựng quốc gia của họ. Đối với người dân Kinh Bắc, dòng sông không chỉ là một thực thể của tự nhiên mà còn là một “người bạn” gần gũi, thân thiết với con người. Dường như mỗi con người nơi đây đều gắn bó với một dòng sông đi qua quê hương của mình và “chảy” qua tâm hồn mình. Tiêu Tương chính là một dòng sông như vậy.
(1) Trang 79.
(1) Trang 60
(5) Xem thêm các tác giả này trong danh mục tài liệu tham khảo.
(1) Theo Chuyện âm nhạc, Hồng Thao sưu tầm, Nxb Thanh Niên, H, 1993
(1) Tài liệu Lịch sử truyền thống làng Xuân Ổ do Nguyễn Kỳ Chúc chủ biên
(1) Trên mảnh đất Cổ Loa lịch sử, Trần Quốc Vượng, Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội, 1970, tr. 56, 57.
(2) Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch và chú giải, Nxb Văn - Sử - Địa, 1960, tr. 41.
(1) Hồng Hải - Thuỷ Chung, "Quần thể di tích lịch sử văn hoá Dục Tú", Tạp chí Kiến trúc, số 1/2005.
(1) Sách Địa chí Hà Bắc, Thư viện Hà Bắc xuất bản, 1980, tr. 395, 396.
Share:

Thứ Năm, 6 tháng 4, 2017

Những chuyện tình trên sông Tiêu Tương

NGÀY 27 THÁNG 09, 2014 | 14:06 
SKĐS - Sông Tiêu Tương uốn lượn như những đài hoa tạo nên vẻ đẹp thơ mộng, kỳ thú.
Trước kia, sông Tiêu Tương chảy qua đất Kinh Bắc bắt đầu từ một nhánh sông Hồng. Khởi nguồn là cửa sông Đuống, dòng Tiêu Tương chảy tới Phù Lưu, kéo qua Đình Bảng, dọc Tương Giang, rồi Lim, Xuân Ổ... và hòa nhập sông Cầu. Xưa còn có một nhánh chảy về Phật Tích, Tiên Du. Sông Tiêu Tương uốn lượn như những đài hoa tạo nên vẻ đẹp thơ mộng, kỳ thú. Nhưng giờ đây, con sông Tiêu Tương chỉ tồn tại như một dòng sông huyền thoại với những chuyện tình bất tử cùng những làn điệu dân ca quan họ xao xuyến lòng người.
1-Khối tình Trương Chi
Đến bất cứ một khúc sông Tiêu Tương còn sót lại, chạy dọc con đường quốc lộ A1 cũ, bao giờ cũng lung linh vẻ đẹp huyền ảo của câu chuyện nàng Mỵ Nương rơi lệ xuống chén ngọc. Nàng nhớ tiếng hát của Trương Chi, cùng với tình yêu say đắm của chàng đã đi xuống tuyền đài. Khi tôi đi dọc đoạn sông còn sót lại, chạy dọc con đường làng Đình Bảng ra tới đền Bát Đế vẫn còn nghe một bà bán bánh đa vừng kể chuyện như hát lại bi tình sử này: “Ngày xưa có anh Trương Chi. Người thì thậm xấu, hát thì thậm hay. Cô Mỵ Nương ở Lầu Tây. Con quan thừa tướng ngày ngày cấm cung. Trường Chi chở đò ngoài sông. Cất lên tiếng hát động lòng Mỵ Nương...”. Thế rồi bà dẫn tôi ra tận một cổng sông ở kề xóm Bà La, Đình Bảng và kể rằng, người ta đã vớt xác Trương Chi lên ở đây, nhưng chỉ còn lại trái tim đã kết lại thành một khối ngọc trong vắt.
Khúc sông Tiêu Tương còn sót lại.
Trương Chi chết đi vì sự đau khổ tột cùng của tình yêu. Còn Mỵ Nương lại mất đi tiếng hát của Trương Chi, một khối tình sầu cảm làm rung động tâm hồn nàng. Đó là khối tình trong mộng với vẻ đẹp của giọng hát làm say đắm con tim Mỵ Nương. Mất nó, nàng còn đau khổ hơn. Trái tim chan chứa tình yêu của chàng đã hóa ngọc để ban đến cho nàng một vẻ đẹp thuần khiết nhất. Hình ảnh chàng lái đò và tiếng hát trong trẻo ngọt ngào lại vang lên từ trong lòng chén ngọc được đúc lên từ trái tim chàng. Và khi giọt nước mắt nhớ thương của nàng rớt xuống làm chén ngọc tan biến, đó cũng là lúc giọt tình đã được trao. Trương Chi chàng đã thoát vào cõi hư vô với tình thương yêu của nàng Mỵ Nương.
Người dân Kinh Bắc tự hào nói tiếng hát của chàng Trương Chi giờ đã được cha ông truyền lại muôn đời qua các làn điệu dân ca quan họ. Người ta còn kể, Lầu Tây nơi mà Mỵ Nương ngồi bên sông Tiêu Tương chảy qua là đồi Hồng Vân (Lim). Phải chăng để chia sẻ mối tình bi thảm ấy mà hàng năm, cứ đến ngày 13 tháng Giêng, trai gái khắp vùng về đây trẩy hội và hát giao duyên. Và cũng chính vì thế, hầu hết trong nhiều lời ca và giai điệu quan họ bao giờ cũng phảng phất nỗi buồn, nhất là những bài về tình yêu giữa liền anh và liền chị. Và thường họ chẳng mấy khi nên duyên vợ chồng. Hẹn thế đấy nhưng rồi mùa hội nào cũng vậy, cho dù có níu giữ, cho dù có dan díu nhưng rồi lại hẹn đến xuân sau.
Khi đến đây, tôi lại chợt nhớ đến trường ca Trương Chi của cố nhạc sĩ Văn Cao vẫn vẳng bên tai từ hồi thơ bé. Bố tôi hát nghe buồn đến rụng rời con tim, khi đến đoạn: “Đò trăng giữa dòng sông vắng. Gió đưa câu ca về đâu? Nhìn xuống đáy nước sông sâu. Tuyền anh đã chìm đâu. Thương khúc nhạc xa vời...”. Sau này, còn hàng chục nhạc sĩ khác cũng đã từng về đây để sáng tác với những cảm xúc sâu sắc và chia sẻ cùng nỗi đau muôn thuở, tình nghệ sĩ nghèo. Có lẽ vậy bởi nhạc sĩ Văn Cao lúc sinh thời đã nói mình chính là Trương Chi đó mà...
2-Một mối tình bí ẩn vĩ đại
Gần đây, tôi trở lại chùa Tiêu, đứng trên núi Tiêu nhìn xuống dòng sông Tiêu Tương xưa vì nghe nói nơi này không hề có hòm công đức. Đó là chuyện hiếm hoi từ xưa tới nay. Thật sự ngạc nhiên, nếu không nói đây là chùa cổ duy nhất và cũng là một trung tâm phật giáo từ lâu đời ở xã Tương Giang, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh không đặt hòm công đức bao giờ. Thậm chí các ni sư ở đây thường hái thị chín trên cây đem ra chợ làng bán để phụ thêm tiền sắm hương lễ. Hiện ở chùa có mấy cây thị cổ rất lớn, quanh năm xanh tốt và đậu quả thơm lừng. Nghe cũng ngỡ như chuyện cổ tích thời nay vậy. Khó tin nhưng có thật.
Các nhà sư chùa Tiêu.
Nhưng nghe cô bán nước ngay chân chùa kể chuyện thì câu chuyện tình của mẹ vua Lý Thái Tổ bên sông Tiêu Tương này mới thấy còn bí ẩn hơn câu chuyện giữa Trương Chi và Mỵ Nương. Nhìn về phía xa, con hồ trước mặt chính là một khúc sông Tiêu Tương chảy qua chân núi, cô gái kể... “Vào khoảng năm 959, chùa Tiêu do thiền sư Lý Vạn Hạnh, người làng Đình Bảng chủ trì. Khi đó, ngài mới 21 tuổi, xuất gia tu học ở chùa Lục Tổ nhưng đã tinh thông phật pháp và binh pháp vì được rèn luyện, học tập từ nhỏ. Ngài còn có người em trai là Lý Khánh Văn cũng trụ trì ở chùa Cổ Pháp (còn gọi là chùa Dận) cách đây một chuyến đò cùng bên kia bờ sông Tiêu Tương.
Một hôm, có người đàn bà ôm đứa con trai mới đẻ đến đặt ở cửa tam quan chùa Cổ Pháp rồi bỏ đi. Thiền sư Lý Khánh Văn nghe thấy tiếng trẻ khóc, thấy xót lòng bèn bế vào chùa nuôi nấng và đặt tên là Lý Công Uẩn. Đó là vào năm 974. Thời gian trôi đi, Lý Công Uẩn lớn lên khỏe mạnh và tỏ ra có khí chất khác thường, học hành sáng dạ. Khi đến 5 tuổi, Lý Công Uẩn được cha nuôi đưa sang chùa Tiêu Tương để học thầy trụ trì chùa Tiêu là Lý Vạn Hạnh. Từ đó, sự nghiệp của Lý Công Uẩn được thiền sư Lý Vạn Hạnh gây dựng cho đến mấy chục năm sau trở thành vị vua đầu triều nhà Lý, lấy niên hiệu là Thuận Thiên và danh xưng là Lý Thái Tổ, lên ngôi năm 1009.
Nhưng trong suốt những năm tháng ấy, câu chuyện về người mẹ sinh một đứa con hoang trở thành một ông vua được bàn dân thiên hạ khắp nơi tò mò. Cha của vua là ai? Vì sao người mẹ lại phải bế đến chùa. Có chuyện tình oan trái hay cay đắng gì đây. Sau này người ta xác định được người đàn bà ấy chính là Phạm Thị Ngà, người ở Dương Lôi. Nhưng người chồng hay người tình phản bội kia là ai vậy? Thực ra dân tình cũng đã bàn đến chuyện người con bị bỏ ở chùa Cổ Pháp. Chuyện kể người đàn bà họ Phạm kia có thời gian làm việc ở chùa và đã quan hệ gần gũi, thân thiết với sư thầy. Khi thấy người con gái có thai, thầy bèn đuổi đi. Nhưng đến ngày sinh nở, người mẹ đã trả lại con cho nhà chùa. Họ còn đặt vè trong dân gian thế này: “Con ai đem bỏ chùa này. Nam mô di phật con thầy, thầy nuôi”.

Hai cây thị cổ ở chùa Tiêu
Lại có chuyện kể, người cha của đứa bé là một người làm thuê ở chùa Tiên Sơn và đã gặp người con gái xinh đẹp làng Dương Lôi. Hai người có lòng yêu mến nhau. Khi người con gái có mang thì người làm thuê kia bị đuổi ra khỏi chùa. Cả hai dắt díu nhau vào rừng, không có nơi ăn chốn ở và đói khát cùng đường. Người chồng đã uống phải nước giếng độc, bị chết trong rừng. Lúc đó, người vợ chỉ còn một con đường đến ăn mày cửa phật. Sau khi sinh con xong, để lại cho nhà chùa nuôi, người mẹ đã ra đi. Chuyện này còn được thêu dệt lên cùng những tình tiết huyền tích khác như trong một đêm nằm ngủ, thiền sư Lý Khánh Văn thấy mộng báo, sáng mai hãy đón hoàng đế đến chùa. Khi thiền sư ra chỉ thấy một người đàn bà sắp đẻ nên cưu mang giúp đỡ. Và người con được sinh ra sau này chính là vua Lý Thái Tổ.
Nhưng có lẽ còn ly kỳ hơn khi có chuyện kể chính thiền sư Lý Vạn Hạnh mới là cha đẻ thực sự của vua Lý Thái Tổ. Trước đó, khi xảy ra chuyện, ngài đã nhờ Lý Khánh Văn gánh vác hộ, nhận đứa bé làm con nuôi để lấy họ Lý. Chính vì thế mà Lý Vạn Hạnh đã dồn toàn bộ tâm trí và tài năng để dạy dỗ, tạo dựng nghiệp lớn cho con trai tiếp nối lý tưởng trị vì thiên hạ của mình. Thiền sư còn tạo dựng những thế lực trong triều Tiền Lê cùng những lời sấm truyền trong dân gian để chớp thời cơ cho Lý Công Uẩn đoạt ngôi vua như mệnh trời sắp đặt. Và có thể nói, triều họ Lý chính do một tay ông dựng lên. Thậm chí, chuyện vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thành Thăng Long năm 1010 cũng bắt đầu từ ý tưởng của Lý Vạn Hạnh. Hơn nữa, sau này, vua Lý Thái Tổ đã về quê nội ở Đình Bảng để chọn đất thờ và trở thành lăng mộ hiện nay ở đền Bát Đế lại càng thêm khẳng định cha ngài chính là Sư Tổ Lý Vạn Hạnh!?
3-Ghi trên đỉnh núi Tiêu
Tôi cứ mơ màng trong câu ca xưa từ đâu đó trên không trung cất lên: “Con trời chẳng biết mặt cha. Lớn lên trung dũng tài ba khác thường. Ai về bên bến sông Tương. Chớ gần cô tiểu mà vương phải bùa”. Và một buổi sớm tôi lên núi đúng vào giờ tụng kinh của các sư chùa Tiêu. Được một ni sư chỉ đường lên đỉnh cao, ở đó có tượng Sư Tổ Vạn Hạnh bằng đá trắng sừng sững trên trời xanh. Tôi chậm bước lên từng bậc đá và chợt nghĩ trong cái hiện hữu lại có cái hư vô đến lạ kỳ. Sắc sắc không không là vậy. Tình yêu là suối nguồn của sức mạnh luôn luôn hiện hữu và vô hình ở khắp mọi nơi trên thế gian này. Việc một người đàn bà thử ướm chân vào vết chân thần ở ngoài vườn mà sinh ra Thánh Gióng quả là chuyện tình kỳ ảo và hiện hữu bao la. Bao đời nay, người đời tôn thờ và tưởng nhớ đến: “Ai ơi mùng chín tháng tư. Không đi hội Gióng cũng hư mất đời”. Cái vô thường nghĩ cho cùng lại là hữu hạn tự ở con người. Mối tình kia đã hóa về trời. Con trời đã được trao cho kiếp làm người trên trần thế để đem lại hạnh phúc cho chúng sinh. Đó là nút kết của câu chuyện tình bí ẩn nhất, vĩ đại nhất của kho tàng cổ tích trên dòng sông Tiêu Tương.
Ghi chép: Cảnh Linh
Nguồn Trang Sức khỏe & Đời sống Online
Share:

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2017

Bí ẩn quanh kim tự tháp lâu đời nhất ở Ai Cập

Được xây dựng tại Saqqara khoảng 4.700 năm trước, kim tự tháp bậc thang Djoser là kim tự tháp đầu tiên của người Ai Cập.
Djoser đôi khi được đánh vần là Zoser, (mặc dù thực tế ông được gọi là Netjerykhet) là vị vua triều đại thứ ba của Ai Cập.
Người lập kế hoạch xây dựng kim tự tháp là Imhotep, tể tướng của triều đại sau đó đã được tôn sùng như một vị thánh nhờ các đóng góp của mình.
Kim tự tháp có nguồn gốc ban đầu là một lăng mộ Mastaba - một kiến trúc mặt bằng hình bình hành, trải qua hàng loạt công việc xây dựng đã hình thành một kim tự tháp cao 60 mét với sáu tầng được xây chồng lên nhau.
Việc xây dựng kim tự tháp cần 11,6 triệu mét khối đá và đất sét. Các hầm bên dưới kim tự tháp tạo nên một đường dẫn dài khoảng 5,5km.
Kim tự tháp bậc thang Djoser là kim tự tháp lâu đời nhất Ai Cập.

Khu liên hợp

Kim tự tháp nằm ở trung tâm khu liên hợp rộng khoảng 15 hecta, được bao quanh bởi một tường đá vôi gồm 13 cánh cửa giả cũng như lối đi thực sự ở phía đông nam.
Một ngôi đền nằm ở phía bắc của kim tự tháp dọc với tượng đài của vị vua. Tượng đài được bao quanh bởi kiến trúc đá nhỏ được biết đến như là “serdad”. Phía nam của kim tự tháp là một cung điện được rào chắn xung quanh bởi một bệ thờ và các tảng đá.
Rất nhiều các tòa nhà mặt tiền được xây dựng trong khu liên hợp, bao gồm một loạt nhà thờ nhỏ ở phía đông nam cũng như các sảnh đường bắc và nam ở phía đông kim tự tháp. Các cấu trúc phục vụ cho mục đích tôn giáo.
Ở phía đông nam của khu liên hợp, cạnh các nhà thờ nhỏ là một cung điện có lẽ được xây dựng dành cho vua tổ chức các lễ hội Hed - Seb ở thế giới bên kia.
Ở phía nam cuối của khu liên hợp là một lăng mộ huyền bí với một nhà thờ nhỏ. Nó gồm hàng loạt các đường hầm bắt chước kiểu dáng các đường hầm được tìm thấy phía dưới kim tự tháp. Điều gì được chôn giấu ở đó là một điều bí mật.
Một nhà thờ nhỏ trong cung điện Hep-Sed ở kim tự tháp bậc thang Djoser.

Lăng mộ của Vua

Bên dưới kim tự tháp bậc thang là một dãy hỗn tạp các đường hầm và căn phòng, trung tâm là một hầm sâu 28 mét ở dưới đáy là lăng mộ của vua Djoser.
Các công việc bảo tồn gần đây ở lăng mộ phát hiện các mảnh quan tài bằng đá granit của vị vua và tên của các nữ hoàng vẫn còn có thể đọc được.
Nhà Ai Cập học Zahi Hawass, nguyên giám đốc hội đồng di sản tối cao Ai Cập trong một đoạn video vào năm 2009 nói về công việc bảo tồn ở kim tự tháp: “Kim tự tháp bậc thang là kim tự tháp duy nhất trong triều đại cổ mà có mười một trong số các con gái của vua được chôn bên trong".
Hầm mộ ban đầu có thể được trang trí bởi khối đá vôi chứa các ngôi sao năm cánh tạo thành một trần đầy sao. Tuy nhiên, không biết vì lý do gì, việc trang trí này bị những người xây dựng dỡ bỏ thay vào đó là một phòng chôn bằng đá granit đơn giản hơn.

Đường hầm và cung điện dưới mặt đất

Hai lối đi dẫn tới hầm ngầm và chia ngả thành ba hướng. Ở đó chứa ba phòng trưng bày, một hầm nhỏ đặc biệt chứa đồ ăn, và một phòng chưa hoàn thiện có thể đã được xây dựng làm cung điện dưới mặt đất của thế giới bên kia.
Ba cánh cửa giả chứa các họa tiết cho thấy sự sùng bái tôn giáo của vua. Buồng được trang trí với hàng nghìn gạch vuông bằng sứ xanh bắt chước hình vẽ chiếu đan bằng sậy trong cung điện của nhà vua ở Memphis. Căn phòng ở bên dưới kim tự tháp này được hoàn thành một cách nhanh chóng.
Một hầm khác, bắt đầu ở phía bắc của kim tự tháp, chứa 40.000 bát đá, nhiều trong số đó thuộc về tổ tiên của vua. Các quan tài và các phần của hài cốt cũng được tìm thấy.

Sự bảo tồn ngày nay

Kim tự tháp bậc thang là một công trình không bền chắc với những dự đoán cho thấy rằng nếu không có công việc bảo tồn thì các hầm bên dưới kim tự tháp có thể sập và tượng đài có thể mất đi một phần đáng kể trong một vài thập kỉ nữa.
Người Ai Cập đã bắt đầu nỗ lực bảo tồn di sản nhiều năm trước và gần đây Cintec, một công ty xây dựng Anh đã được huy động để hỗ trợ nỗ lực bảo tồn. Họ sử dụng các túi khí lớn để nâng đỡ mái kim tự tháp trong khi thực hiện các công việc sửa chữa cấu trúc kim tự tháp.

Sự vinh danh

Với việc xây dựng kim tự tháp bậc thang, Imhotep cuối cùng được sùng bái như một vị thánh. Nhà Ai Cập học Marc Van De Mieroon viết trong cuốn sách “Lịch sử của Ai Cập cổ đại” của mình rằng vua Djoser dành cho Imhotep một đặc ân, cho phép tên và danh hiệu của ông được khắc vào nền tượng đài vua.
Tham khảo: Livescience
Cập nhật: 30/03/2017Theo Giáo Dục, Livescience
Share:

Thứ Năm, 30 tháng 3, 2017

Quá trình tổ chức và phát triển của Facebook

Căn phòng Mark Zuchkerberg ở từng thuộc về Wallace Shawn - diễn viên lồng tiếng cho chú khủng long Rex trong phim Toy Story. Tại đây vào cuối năm 2002, Mark đã viết ra trang web mang tên “FaceMash”.
“FaceMash” lấy ý tưởng từ trang Hot or Not đang nổi tiếng khi đó và sử dụng ảnh của các sinh viên mà anh hack được từ dữ liệu trường Harvard. Dù vi phạm quy chế thông tin sinh viên của Harvard, “FaceMash” đã thể hiện khái niệm sơ khai nhất của Facebook - mọi người có thể tìm được nhau online.


Được hưởng ứng từ sinh viên Harvard, Mark vẫn bị kỷ luật và buộc phải gỡ trang “FaceMash”. Ngày 4/2/2004, anh tiếp tục tạo trang TheFacebook.com, mạng xã hội lớn nhất hành tinh (khi đó chỉ xuất hiện trong đại học Harvard) được ra đời....

Facebook là một website truy cập miễn phí do công ty Facebook, Inc điều hành. Người dùng có thể tham gia các mạng lưới được tổ chức theo thành phố, nơi làm việc, trường học và khu vực để liên kết và giao tiếp với người khác. Mọi người cũng có thể kết bạn và gửi tin nhắn cho họ, và cập nhật trang hồ sơ cá nhân của mình để thông báo cho bạn bè biết về chúng. Tên của website nhắc tới những cuốn sổ lưu niệm dùng để ghi tên những thành viên của cộng đồng campus mà một số trường đại học và cao đẳng tại Mỹ đưa cho các sinh viên mới vào trường, phòng ban, và nhân viên để có thể làm quen với nhau tại khuôn viên trường.
Trụ sở hiện tại của Facebook ở Stanford Research ParkPalo Alto, California.

Mark Zuckerberg thành lập Facebook cùng với bạn bè là sinh viên khoa khoa học máy tính và bạn cùng phòng Eduardo SaverinDustin Moskovitz và Chris Hughes khi Mark còn là sinh viên tại Đại học Harvard

Vài tháng sau đó, TheFacebook bắt đầu xuất hiện quảng cáo, nhằm chi trả cho chi phí liên quan đến máy chủ, cơ sở dữ liệu của người dùng. Cũng trong năm 2004, Mark Zuckerberg bỏ học tại Harvard để tập trung phát triển trang mạng xã hội của mình và đổi tên nó thành Facebook.
Facebook chính thức ra đời.Trên đây là hình ảnh từ những ngày đầu tiên của Facebook. Website dành cho các sinh viên Harvard này sau gần 10 năm sau đã có 1 tỷ người dùng trên toàn thế giới.
Công ty Facebook của Mark có chủ tịch đầu tiên là Sean Parker, người đồng sáng lập dịch vụ chia sẻ nhạc Napster. Sau đó, Facebook dời trụ sở đến văn phòng nhỏ tại thành phố Palo Alto thuộc California, Mỹ. 

Facebook khi đó được 500.000 USD đầu tư từ Peter Thiel và Elon Musk - 2 cựu điều hành của PayPal. Đây là cột mốc cho sự phát triển nhanh chóng của mạng xã hội này. 

Tháng 5/2005, Facebook gây quỹ đầu tư được 13,7 triệu USD. 
Cũng trong năm nầy facebook cho ra mắt trang Profile.Trên đây là hình ảnh chụp từ trang Profile của Facebook được giới thiệu vào năm 2005.

Năm 2006, trang Profile của Mark xuất hiện với một diện mạo mới với việc bổ sung tính năng New Feed (Mini Feed).
Đó chính là ngày 6 tháng 9 năm 2006, tính năng News Feed được ra mắt, nó xuất hiện trên trang chủ của thành viên sử dụng và làm nổi bật thông tin bao gồm thay đổi hồ sơ, các sự kiện sắp tới, và ngày sinh nhật của bạn bè của thành viên đó.
Facebook Notes được giới thiệu vào ngày 22 tháng 8 năm 2006, một tính năng viết blog cho phép nhúng các thẻ và hình ảnh. Thành viên sau đó có thể nhập blog từ XangaLiveJournalBlogger, và các dịch vụ blog khác. Trong tuần lễ từ ngày 7 tháng 4 năm 2008, Facebook đưa ra ứng dụng nhắn tin tức thời dựa trên ngôn ngữ lập trình Comet gọi là "Chat" cho một vài mạng, cho phép người dùng giao tiếp với bạn bè và nó có chức năng tương tự ứng dụng tin nhắn tức thời của máy tính để bàn.
Ngày 8 tháng 2 năm 2007, Facebook ra mắt tính năng Quà tặng, cho phép người dùng gửi quà tặng ảo cho bạn bè của họ xuất hiện trên hồ sơ của người nhận. Mỗi quà tặng chi phí 1,00 $ để mua hàng, và một tin nhắn cá nhân hoá có thể được đính kèm với từng món quà. Ngày 14 tháng 5 năm 2007, Facebook khai trương Marketplace, cho phép người sử dụng đăng quảng cáo miễn phí có tính phân loại. Marketplace đã từng được so sánh với Craigslist bởi CNET, trong đó chỉ ra rằng sự khác biệt lớn giữa hai tính năng là danh sách được đăng bởi một người sử dụng trên Marketplace chỉ nhìn thấy bởi những người dùng đang ở trong cùng một mạng với người dùng đó, trong khi danh sách được đăng trên Craigslist có thể được xem bởi bất cứ ai.
Ngày 6 tháng 11 năm 2007, Facebook triển khai Facebook Beacon nhằm ngăn chặn những cố gắng quảng cáo đến bạn bè của các thành viên nhờ sử dụng những thông tin cá nhân của thành viên đó.
Đầu năm 2008, Sheryl Sandberg gia nhập Facebook và trở thành COO của công ty. Đây cũng là thời điểm smartphone bắt đầu nở rộ, mang lại nhiều người dùng hơn cho Facebook. Công ty dời trụ sở đến Standford Research Park tại Palo Alto. 
Ngày 20 tháng 7 năm 2008, Facebook giới thiệu "Facebook Beta", một thiết kế lại đáng kể giao diện người dùng trên các mạng đã chọn. Tính năng Mini-Feed và Wall được hợp nhất, hồ sơ đã được tách thành nhiều phần theo thẻ, và một nỗ lực đã được thực hiện để tạo ra một cái nhìn "sạch". Sau khi ban đầu cho người dùng một sự lựa chọn để chuyển đổi, Facebook đã bắt đầu di chuyển tất cả thành viên vào phiên bản mới trong tháng 9 năm 2008. Ngày 11 tháng 12 năm 2008, người ta thông báo rằng Facebook đã thử nghiệm một quá trình đăng ký đơn giản hơn.
Năm 2008, với lượng người dùng gia tăng nhanh chóng, Facebook giới thiệu giao diện trang chủ mới bắt mắt hơn rất nhiều.
Ngày 13 tháng 6 năm 2009, Facebook đã giới thiệu tính năng "Tên người dùng" (Usernames), nhờ đó mà các trang có thể được liên kết với URL đơn giản hơn như http://www.facebook.com/facebook so với http://www.facebook.com/profile.php?id=20531316728. Nhiều điện thoại thông minh mới cung cấp truy cập vào các dịch vụ của Facebook hoặc thông qua trình duyệt web hoặc các ứng dụng của điện thoại. Ứng dụng Facebook chính thức có sẵn cho hệ điều hành iPhonehệ điều hành Android, và WebOSNokia và Research In Motion đều cung cấp ứng dụng Facebook cho các dòng di động của họ. Hơn 150 triệu người dùng truy cập vào Facebook thông qua thiết bị di động trên 200 nhà khai thác dịch vụ di động ở 60 quốc gia.

Năm 2009, Facebook nâng cấp đáng kể khi đồng bộ thời gian New Feed và cho phép người dùng chia sẻ ngay lập tức trên đây qua 'lời mời gọi' 'What's on your mind?'

Ngày 23 tháng 2 năm 2010, Facebook được cấp bằng sáng chế US patent 7669123 về những khía cạnh của News Feed. Bằng sáng chế bảo vệ News Feeds trong đó các liên kết được cung cấp để một người dùng có thể tham gia vào các hoạt động tương tự của một người dùng khác


Facebook đưa ra dịch vụ "Facebook Messages" mới vào ngày 15 tháng 11 năm 2010. Trong sự kiện truyền thông ngày hôm đó, Giám đốc điều hành Mark Zuckerberg cho biết, "Sự thật là mọi người sẽ có thể có địa chỉ email an@facebook.com, nhưng nó không phải email." Việc ra mắt tính năng như vậy đã được dự đoán trước khi công bố nó, với một số người gọi nó là "sát thủ của Gmail." Hệ thống này có sẵn cho tất cả người sử dụng trang web, kết hợp tin nhắn văn bảntin nhắn tức thờiemail, và tin nhắn thông thường, và sẽ bao gồm các thiết lập bảo mật tương tự như của các dịch vụ khác của Facebook. Với mã hiện "Project Titan," Facebook Messages mất 15 tháng để phát triển
Phần lớn doanh thu của Facebook đến từ quảng cáo. Microsoft là một đối tác đặc biệt của Facebook về các dịch vụ banner quảng cáo, và Facebook chỉ đăng các quảng cáo thuộc mạng lưới quảng cáo của Microsoft Theo comScore, một công ty nghiên cứu thị trường internet, Facebook thu thập rất nhiều dữ liệu từ những người viếng thăm tương đương như Google và Microsoft, nhưng ít hơn so với Yahoo!. Năm 2010, đội an ninh mạng của công ty đã bắt đầu mở rộng các nỗ lực nhằm ngăn chặn những nguy hiểm và phá hoại từ phía người sử dụng.




Facebook được cho là tình cờ chiếm được ưu thế ở Việt Nam kể từ sau khi Blog 360 độ của Yahoo ngừng hoạt động vào tháng 7-2009. Nhiều thành viên Blog 360 độ, đặc biệt là giới sinh viên, học sinh, công nhân viên chức trẻ… đi tìm một không gian cộng đồng mới trên mạng và sau khi lang thang qua nhiều trang web, dần dần họ đã tụ về bến đỗ Facebook, hoặc ít nhất cũng có tài khoản đăng kí trên Facebook.
Năm 2010, Facebook đem lại sự hài lòng cho người dùng bằng việc đổi mới trong việc thiết kế và nâng cấp trang Profile.


Cùng năm 2010, Facebook đã khá nhanh nhẹn khi kịp thời nắm bắt thị hiếu người dùng thông qua việc phát triển tính năng Facebook Page. Trên đây là hình chụp Fan Page của Lady Gaga, nếu thích cô ấy, bạn có thể nhấn Like.
2011 là thời điểm Facebook thể hiện sức mạnh của mình trong chính trị, đến mức mạng xã hội này bị cấm tại Ai Cập vì người dân phản đối chế độ của tổng thống Hosni Mubarak. Mark Zuckerberg bắt đầu gặp gỡ các lãnh đạo chính trị để bàn về cung cấp Internet toàn cầu. 

Năm 2011, Facebook trở lên 'lợi hại' hơn khi bổ sung ticker. Với chức năng này, bạn có thể ngồi một chỗ vào theo dõi 'nhất cứ nhất động' của bạn bè xung quanh một cách nhanh chóng.

Cũng trong năm 2011, Facebook cho phép người dùng thực hiện những cuộc gọi bằng hình ảnh.

Nổi bật trong năm 2011 là việc mạng xã hội khổng lồ này ra mắt giao diện Timeline, đem lại trải ngiệm mới cho người dùng. Nhiều người dùng coi đây như một trang nhật ký của cuộc đời.

Một đánh dấu nữa trong cột mốc phát triển của Facebook là việc cho phép người dùng sử dụng tính năng Subcrible (Follow) để theo dõi những hoạt động của một người nào đó mà không cần kết bạn.


Năm 2012, với sự phát triển nhanh chóng của các thiết bị di động, Facebook ra mắt App Center bao gồm nhiều ứng dụng. Ban đầu kho ứng dụng này có khoảng 500 ứng dụng, trong đó chủ yếu là trò chơi.


Các luật hôn nhân và quyền con người cũng được Facebook để ý và ủng hộ. Tháng 5/2012, công ty phát hành cổ phiếu công chúng lần đầu (IPO) và huy động được 5 tỷ USD. Sự phát triển của Facebook khi đó được nhận xét là không thể ngăn cản.
Giữa năm 2012, Facebook mua lại website chia sẻ hình ảnh Instagram với giá 1 tỷ đô. Mark Zuckerberg coi đây là 'một cột mốc quan trọng của Facebook'.

Tính đến tháng 9 năm 2012, Facebook hiện có hơn một tỷ thành viên tích cực trên khắp thế giới. Với con số ấy, Facebook là mạng xã hội phổ biến nhất, tiếp theo sau là MySpace và Twitter. Hiện tại, Facebook có số lượt truy cập đứng thứ hai của thế giới sau Google.
Facebook đã gặp phải một số tranh cãi trong những năm qua. Nó đã bị cấm một thời gian tại một số quốc gia, trong đó có Syria, Trung Quốc, Việt Nam và Iran (hiện tại thì không còn). Nó cũng đã bị cấm tại nhiều công sở để hạn chế nhân viên tốn thời gian sử dụng dịch vụ. Quyền riêng tư trên Facebook cũng là một vấn đề gây nhiều tranh cãi. Trang này cũng đang đối mặt với một số vụ kiện từ một số bạn cùng lớp của Zuckerberg, những người cho rằng Facebook đã ăn cắp mã nguồn và các tài sản trí tuệ khác của họ.

Đầu năm 2013, Facebook giới thiệu Graph Search, một tính năng cho phép người dùng dễ dàng tìm kiếm thông qua các thông tin, các mối quan hệ của bạn bè.
Năm 2014, tròn 10 năm Facebook ra đời, mạng xã hội có đến 1,23 tỷ lượt truy cập mỗi tháng, một tỷ trong số đó đến từ thiết bị di động. Để đáp ứng lượng người dùng khổng lồ, Facebook phải nâng cấp cơ sở hạ tầng và nhân lực. Trong năm 2016, công ty đã mở rộng thêm khuôn viên cho 2.800 nhân viên. 
Tháng 12/2015, quỹ Chan Zuckerberg Initiative được thành lập nhằm hỗ trợ phát triển các giải pháp chữa bệnh. Dù đầu tư gần hết tiền bạc của mình vào quỹ từ thiện nhưng Mark vẫn có thể điều hành Facebook tiếp tục phát triển và sinh lời.

Tài liệu tham khảo:
Bạn có thể xem thêm trên Blog của tôi:

Mark Zuckerberg đã khởi nghiệp như thế nào
Bill Gates tự tin đón màn thử thách từ Mark Zuckerberg


Khanhnguyen' s Blog Tổng hợp
Share:

Social Button


Tổng số lượt xem trang

Khách đang xem trang

Số lượng :

Comments mới nhất

Random Post

Mời bạn ghé thăm

PearLand Nails and Spa

Kết bạn cùng Blog Khanhnguyen

Cần bán gấp:


Trang Liên Kết

 
BACK TO TOP